Gặp Duy Tân nhớ Hải Phòng
Nửa thế kỷ trước, ngày 5/8/1964 đã lật lịch sử Việt Nam sang trang mới - cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước – khi máy bay Mỹ ném bom miền Bắc. Cũng chính vào thời điểm đấy, lịch sử văn nghệ Hải Phòng cũng lật sang trang mới - đó là việc hình thành dàn nhạc giao hưởng một quản và tới tấp thu nhập nhân tài từ Hà Nội trở về. Trong số những người ấy có ca sĩ Duy Tân. Giờ sau nửa thế kỷ, gặp anh ở Sài Gòn, câu chuyện giữa chúng tôi với nhau khiến tất cả đều nhớ Hải Phòng một thuở đến lạ lùng.
Duy Tân là người Hà Nội. Ngay từ thời phổ thông, Duy Tân đã theo học thầy Quý Dương. Những năm vào trường nhạc Hà Nội (nay là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam), Duy Tân lại tiếp tục học ông. Với chất giọng nam trung (Basyton) khỏe và sáng, khi ra trường, Duy Tân được phân công về Đoàn Ca múa Hải Phòng, có một mối cơ duyên giữa Hải Phòng và Hà Nội khá đặc biệt. Thời tiền chiến cửa biển Hải Phòng chính là nơi bắt nguồn của nhiều tài năng văn nghệ Việt Nam như: Hoàng Ngọc Phách, Trần Tiêu, Khái Hưng, Thế Lữ, Lan Sơn, Nguyễn Huy Tưởng, Văn Cao, Nguyễn Đình Thi… và hầu hết đều lên Hà Nội tỏa sáng. Đến thời chống Mỹ thì lại có một hành trình ngược nhiều tài năng văn nghệ Hà Nội xuống lập nghiệp ở Hải Phòng như Vũ Tự Lân, Lương Vĩnh, Nguyễn Kim, Vũ Loan, Vân Long, Hoàng Hưng… Duy Tân là một trong số những người ấy.
Còn nhớ y nguyên những ngày đầu chống Mỹ, tự nhiên nghe được một giọng nam trung mới mẻ qua loa truyền thanh: “Ta lại đào công sự/ Cho trận chiến ngày mai/ Nào tay cuốc ấy tay mai/ Ta đào nhanh ớ dân làng ơi!...”. Bài hát “Đào công sự” của Nguyễn Đức Toàn đã hay, lại được thể hiện bằng một chất giọng rất ấn tượng của Duy Tân, đã lập tức đi thẳng vào lòng người nghe.
Đấy cũng là “màn chào hỏi” với người dân đất Cảng của Duy Tân. Sang năm 1965, ngay sau cái Tết tưng bừng với sự ra mắt của Dàn nhạc Giao hưởng ở Nhà hát Lớn dưới đũa chỉ huy của nhạc trưởng Trịnh Kính, Hải Phòng bắt đầu bước vào cuộc chiến đấu mới, bằng chiến công bắn rơi máy bay Mỹ của quân dân đảo Bạch Long Vỹ. Hàng loạt các ca khúc ca ngợi chiến công Bạch long Vỹ ra đời như “Chiến thắng Bạch Long Vỹ” của Trần Hoàn, “Súng ta đã nổ” của Bằng Linh, “Bài ca đảo Bạch Long Vỹ” của Vũ Ngọc Quang (thơ Mai Nam)… Duy Tân lại gây thêm ấn tượng khi thể hiện ca khúc này mặc dù tác giả Vũ Ngọc Quang hát cũng khá hay, chơi đàn ghi ta rất điệu nghệ. Thật mênh mang biển nước khi Duy Tân cất giọng: “Tôi gửi lời ca về đảo xa xôi/ Nghe sóng biển reo dạt dào đã mười năm rồi/ Quê hương ta đó hải âu cánh trắng…” cứ thế, giọng hát Duy Tân đã trở thành thân thuộc với Hải Phòng những ngày chiến tranh. Ngày ấy vừa biểu diễn, vừa thu thanh, vừa đến các cơ quan xí nghiệp dàn dựng văn nghệ, Duy Tân đã chính thức thành rể Hải Phòng sau đám cưới với một nữ công nhân. Điều đó cũng đến với Vũ Tự Lân, Lương Vĩnh, Nguyễn Kim, Vũ Loan… Các chàng rể này ngày càng gắn bó với thành phố cửa biển hơn. Riêng với chàng trai tuấn mã Duy Tân, Hải Phòng còn cả những vết thương do máy bay Mỹ gây nên trong ngày Chủ nhật đẫm máu tháng Tư 1972. Khi đó, toàn bộ khu tạm trú của Đoàn Văn công Hải Phòng bị đánh sập. Rồi những đứa con được khai sinh ở Hải Phòng, giống như giọng hát người cha được thành danh ở mảnh đất này. Khi Lương Vĩnh viết xong tuyệt phẩm “Thành phố hoa phượng đỏ”, Duy Tân đã trải bao năm tháng vui buồn của một thập kỷ bên dòng sông Cấm cuộn trôi, với giọng hát hào sảng của mình.
Từ ngày Thống nhất, Duy Tân lại làm một cuộc dịch chuyển mới từ Cảng Hải Phòng vào Cảng Sài Gòn và định cư cho đến bây giờ. Anh vào làm giảng viên thanh nhạc ở Nhạc viện Sài Gòn. Bữa gặp nhau gần đây thấy Duy Tân rất vui. Anh đã hát như dốc vào lòng ký ức. Vào tuổi 73 mà sao giọng Duy Tân vẫn đẹp, vẫn hay và vẫn riêng một kiểu bừng cháy. Vừa hát, vừa hồi nhớ những kỷ niệm mới chứa chan của Hải Phòng thuở đó. Những kỷ niệm đã thấm sâu vào tâm hồn để rồi biết đớn đau như da thịt, biết chảy ra như máu. Một chút rượu để lòng người nồng men. Mắt Duy Tân chợt xa xăm. Hình như trong ánh sáng lấp lánh ấy, anh lại nhìn rõ cả quá vãng trẻ trung ở miền cửa biển mà chính anh, bằng giọng hát của mình đã góp phần tạo nên sự bi tráng của thời chiến tranh. Giọng hát của một tuấn mã.
(Nguyễn Thụy Kha, Lao động)