Cổng thông tin điện tử


Thành phố Hải Phòng

Tìm kiếm... Tìm kiếm
Thứ tư, ngày 16 tháng 10 năm 2019
Danh mục
    Tùy biến hiển thị -
    .DetailListControl,.DetailListControl .lblDetail_Title,.DetailListControl .divDetail_DateCreate,.DetailListControl .divDetail_DateCreate *,.DetailListControl .Detail_Content *,.Detail_Advance *,.MenuNavigatorControl,.MenuNavigatorControl *,.OtherNewsControl,.OtherNewsControl *,.Detail_FeedBackTable,.Detail_FeedBackListTable,.UserNavbarControl .divControl a
    .DetailListControl,.DetailListControl .lblDetail_Title,.DetailListControl .divDetail_DateCreate,.DetailListControl .divDetail_DateCreate *,.DetailListControl .Detail_Content *,.Detail_Advance *,.MenuNavigatorControl,.MenuNavigatorControl *,.OtherNewsControl,.OtherNewsControl *,.Detail_FeedBackTable,.Detail_FeedBackListTable,.UserNavbarControl .divControl a
    .DetailListControl,.DetailListControl .lblDetail_Title,.DetailListControl .divDetail_DateCreate,.DetailListControl .divDetail_DateCreate *,.DetailListControl .Detail_Content *,.Detail_Advance *,.MenuNavigatorControl,.MenuNavigatorControl *,.OtherNewsControl,.OtherNewsControl *,.Detail_FeedBackTable,.Detail_FeedBackListTable,.UserNavbarControl .divControl a
    Màu chữ:
    Pick Color(Màu hiện tại: #000000)
    Màu nền:
    Pick Color(Màu hiện tại: #FFFFFF)
    Kích thước: Tăng Giảm
    Thiết lập lại
    Lĩnh vực môi trường: Nghiên cứu tác dụng chắn sóng của rừng ngập mặn đến hệ thống đê biển ở Hải Phòng
    30/10/2012 - 15:43
    Nghiên cứu tác dụng chắn sóng của rừng ngập mặn đến hệ thống đê biển ở Hải Phòng

    Mục tiêu nghiên cứu:

    Đánh giá vai trò chắn sóng của một số kiểu cấu trúc rừng ngập mặn đến đê biển khu vực Cầm Cập, Bàng La - Đại Hợp, Gia Lộc - Cát Hải của Hải Phòng.
    Nội dung nghiên cứu:

    - Cấu trúc rừng ngập mặn và điều kiện thủy động lực các khu vực nghiên cứu.
    - Đánh giá vai trò giảm sóng và dòng chảy của rừng ngập mặn khu vực ven biển Hải Phòng.
    - Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật trồng rừng ngập mặn bảo vệ bờ biển Hải Phòng.
    Kết quả nghiên cứu:

    1. Cấu trúc rừng ngập mặn, mô hình thủy động lực và lan truyền sóng tại các khu vực nghiên cứu:

    1.1. Cấu trúc rừng ngập mặn:

    * Khu vực Đại Hợp - Kiến Thụy:
    - Qua khảo sát nghiên cứu cho thấy sự có mặt của 2 loại cây chủ yếu là: trang (Kandelia obovate) và bần chua (Sonneratia caseolaris).
    - Rừng bần, trang, trang bần tại xã Đại Hợp - Kiến Thuỵ nằm dọc theo bờ đê khu vực gần cửa sông Văn úc đến địa phận cống giáp với khu vực Bàng La - Đồ Sơn.
    - Ở đây rừng bắt đầu được trồng từ năm 1999, có các kiểu trồng sau: Rừng trang trồng ở giữa, ngoài phía biển trồng bần chua; Phía giáp đê biển được trồng xen bần và trang; Ngoài biển và bờ đê biển gồm bần xen trang là chủ yếu.
    - Sự phân tầng trong rừng: Tại thời điểm nghiên cứu (tháng 7/2009), tầng cây tái sinh đã có nhiều và thường dạt vào phía sát chân đê biển với độ cao 80 - 90cm. Song đại đa số là cây trang, còn cây bần chua hầu như không có cây con tái sinh.
    - Trên nền sàn rừng tại khu vực có trồng cây bần chua, rễ bần chua với mật độ 120 rễ/m2 và chiều cao trung bình của rễ thở là 45cm ở sát thân cây bần. Xa thân cây chính 1m trở ra thì số rễ thở là 51 rễ/m2 và chiều cao trung bình của rễ thở là 38cm - 48cm.
    - Mức độ che phủ của tán lá rừng Đại Hợp - Kiến Thuỵ:
    + Rừng ở đây được trồng xen kẽ và không trồng xen tạo ra 2 kiểu rừng tại khu vực nghiên cứu theo hướng từ bờ đê ra biển. Mật độ trang trồng theo tỷ lệ 0,7m x 0,7m, khoảng cách các cây khá đồng đều, rừng có thể nói là đã khép tán.
    + Qua khảo sát và tính toán, tỷ lệ che phủ ở đây đạt 98%. Hai kiểu rừng trên trải dài, khu vực nghiên cứu thành một chiều rộng dải rừng là: 650 m - 720m, từ bờ đê biển ra phía biển với các trụ do thân cành, lá tạo theo chiều thẳng đứng trung bình: bần là 6,0 m; trang là 2,8m.
    * Khu vực Bàng La - Đồ Sơn:
    - Qua khảo sát nghiên cứu cho thấy sự có mặt của 2 loại cây chủ yếu là: trang (Kandelia obovate) và bần chua (Sonneratia caseolaris).
    - Rừng trang, trang bần thuộc xã Bàng La - Đồ Sơn nằm dọc theo bờ đê biển từ địa phận cống Bàng La. Rừng ở đây cũng được trồng từ năm 1999. Độ rộng của dải rừng này từ biển vào đê biển dao động từ 700m - 720m.
    - Rừng trồng ở đây cũng có hai kiểu sau: Rừng trang trồng xen bần: ở khu vực gần sát phía đê biển; Rừng trang thuần loại trồng ra xa phía đê biển tức phía gần ngoài mép nước hơn.
    - Sự phân tầng trong rừng: Tại thời điểm nghiên cứu (tháng 7/2009), tầng cây tái sinh đã có nhiều và mọc sát bờ đê biển với độ cao trung bình 85 - 95cm. Song đại đa số là cây trang còn số lượng cây bần ít.
    - Trên nền rừng tại khu vực nghiên cứu, có cây bần chua mọc, rễ bần với mật độ 115 rễ/m2 với chiều cao trung bình là 38cm ở sát cây; xa cây bần khoảng 1m thì mật độ 60 rễ/m2 với chiều cao trung bình là 45cm.
    - Mức độ che phủ của tán rừng khu vực Bàng La - Đồ Sơn: Rừng ở đây chủ yếu là cây trang xen bần chua ở gần phía bờ đê với mật độ trang là 0,7 x 0,7m/cây, với bần chua là: 3,5m x 10m/cây. Đến giai đoạn này rừng hầu như khép tán với tỷ lệ đạt 97 - 98% độ che phủ. Độ cao cây trang trung bình sau 10 năm trồng vào khoảng 2,7m - 3,4m.
    * Khu vực đê Cầm Cập:
    - Thành phần cây rừng ngập mặn chủ yếu là bần chua. Cây Bần chua có thể cao tới 10 - 15m, là loại cây tiên phong ở vùng nước lợ cửa sông.
    - Rừng ngập mặn ở đây có độ tuổi từ 4 - 4,5 tuổi với dải rừng dài 2km rộng 200m bên phải cống và dải rừng rộng 300 - 450m bên trái cống đê Cầm Cập mới dài hơn 2km tới đầm nuôi trồng hải sản của khu nuôi trồng hải sản Hạ Long.
    - Sự phân tầng: Rừng bần ở đây có một tầng cây gỗ cao từ 1,4 - 2,2m. Rừng được trồng từ cuối năm 2005. Cây con tái sinh dưới tán rừng hầu như không có.
    - Mật độ tương đối đồng đều do trồng theo kỹ thuật. Cây gãy chết được trồng dặm xen cây sống vào ngay. Tán lá và sự phân cành đều khắp cách gốc cây 50 cm trở lên đối với các cây trồng gần bờ. Càng xa bờ, các cây có tán lá thưa hơn.
    - Mật độ rễ thở đếm được ở 3 ô nghiên cứu chuẩn tại khu vực này là 50 rễ thở/m2 với chiều cao trung bình của rễ thở là 20cm tại khu vực gần bờ đê. Còn càng ra xa khu bờ, số lượng rễ thở ít và phía biển khu cây có chiều cao 1,2m còn chưa thấy rễ thở, hoặc do cát vùi chưa lộ rõ.
    * Khu vực Gia Lộc - Cát Hải: Vùng ven bờ biển Cát Hải ngày nay không còn rừng ngập mặn. Để đánh giá vai trò của rừng ngập mặn đối với chế độ thủy động lực ở khu vực này, nhóm nghiên cứu đã thử đưa giả thiết là xuất hiện một vùng rừng ngập mặn có đặc điểm cấu trúc tương tự như ở khu vực Bàng La - Đại Hợp.
    1.2. Triển khai mô hình thủy động lực và lan truyền sóng:
    - Để thiết lập các mô hình thủy động lực và lan truyền sóng cho vùng ven biển Hải Phòng và các khu vực ven biển Đại Hợp - Bàng La, ven bờ đê Cầm Cập, và vùng ven bờ Cát Hải, nhóm nghiên cứu đã sử dụng kết hợp các phương pháp lưới lồng (nesting) và phân ly miền tính (Domain Decomposition).
    - Sau khi dùng phương pháp lưới lồng, mô hình thủy động lực - sóng ở phía ngoài gồm toàn bộ vùng cửa sông ven biển Hải Phòng, bao gồm các vùng nước của các cửa sông Bạch Đằng, Cấm, Lạch Tray, Văn Úc, Thái Bình và phía ngoài các cửa sông này mở rộng ra phía ngoài. Miền tính có kích thước khoảng 50km (chiều đông bắc - tây nam) và 51km (tây bắc - đông nam), với diện tích mặt nước khoảng 1.500km2.
    - Các mô hình thủy động lực và lan truyền sóng đã được hiệu chỉnh và kiểm chứng. Đối với mô hình phía ngoài của các khu vực nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã sử dụng kết quả tính toán mực nước của mô hình tại Hòn Dáu so sánh với mực nước quan trắc của tháng 3 và tháng 8 (năm 2009).
    2. Đánh giá vai trò giảm sóng và dòng chảy của rừng ngập mặn khu vực ven biển Hải Phòng:

    2.1. Kết quả quan trắc quá trình giảm sóng:

    * Quá trình giảm sóng tại các khu vực điều kiện bình thường:
    Tại khu vực Bàng La, ở dải rừng phía ngoài 200m, độ cao sóng đã giảm trung bình của các lần đo trên 70% và sau rừng ngập mặn độ cao sóng còn lại không đáng kể. Tại khu vực Cầm Cập, ở dải rừng phía ngoài 100 mét, độ cao sóng giảm trung bình khoảng 40% do bởi phía ngoài rìa phía biển của rừng ngập mặn khu vực đê Cầm Cập có mật độ cây và tán lá tốt.
    * Quá trình giảm sóng tại các khu vực nghiên cứu trong bão:
    Độ cao sóng giảm mạnh khi qua 300 - 400m rừng đầu tiên. Sau đó, càng vào sâu trong rừng ngập mặn, độ cao sóng tiếp tục giảm xuống.
    2.2. Ảnh hưởng của rừng ngập mặn đến dòng chảy:

    - Rừng ngập mặn đã làm giảm mạnh vận tốc dòng chảy hạn chế vận chuyển trầm tích đi nơi khác, tăng cường quá trình lắng đọng và bồi tích ở các khu vực đó.
    - Ở khu vực ven bờ Bàng La - Đại Hợp, rừng ngập mặn đã làm giảm mạnh tốc độ dòng chảy trong các điều kiện bình thường và bão với giá trị suy giảm 40-70% giá trị tốc độ dòng chảy. Vận tốc dòng chảy ở điều kiện bình thường và bão nhỏ trong rừng ngập mặn hầu hết có giá trị dưới 0,1 m/s và dưới 0,15 m/s (đối với bão lớn).
    - Ở khu vực ven bờ đê Cầm Cập, mức độ suy giảm vận tốc dòng chảy ở các vùng rừng ngập mặn phát triển tốt (Ngọc Hải và phía gần cửa Lạch Tray) cũng tương tự như khu vực Bàng La- Đại Hợp. Ở vùng rừng ngập mặn mới trồng (khu vực giữa) mức độ suy giảm vận tốc do dòng chảy trong các điều kiện bình thường và bão khoảng 30- 50% giá trị tốc độ dòng chảy. Vận tốc dòng chảy ở điều kiện bình thường và bão nhỏ trong rừng ngập mặn hầu hết có giá trị dưới 0,15 m/s và dưới 0,25 m/s (đối với bão lớn).
    - Nếu có rừng ngập mặn ở khu vực ven bờ Cát Hải, tốc độ dòng chảy giảm do rừng ngập mặn ở khu vực này cũng dao động trong khoảng 30-70%, vận tốc dòng chảy trong vùng rừng ngập mặn hầu hết nhỏ hơn 0,2m/s đối với điều kiện bình thường và bão nhỏ và nhỏ hơn 0,25m/s đối với bão lớn.
    3. Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật trồng rừng ngập mặn bảo vệ bờ biển Hải Phòng:

    - Tiếp tục tuyên truyền sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân và các cấp quản lý về lợi ích và nhu cầu bảo vệ, phát triển rừng ngập mặn ở Hải Phòng.
    - Ngăn cấm tuyệt đối và xử phạt nghiêm khắc các hình thức chặt phá rừng và cây ngập mặn.
    - Có kế hoạch bảo vệ rừng ngập mặn ở các điều kiện khác nhau.
    - Việc trồng rừng ngập mặn cần phải kiên nhẫn, bền bỉ từng bước, không thể theo đợt đại trà.
    - Rừng ngập mặn trồng ở Hải Phòng chủ yếu mang tính phòng hộ, nên thường là thuần loài, thường chỉ một hai loài trồng, vì vậy đa dạng sinh học kèm theo không cao. Để tăng vai trò sinh thái và đa dạng sinh học, khi rừng trồng sau một số năm ổn định, cần trồng xen giặm các loài khác nhằm tăng đa dạng sinh học.
    - Đối với các khu vực đã có rừng ngập mặn như Bàng La - Đại Hợp và ven bờ đề Cầm Cập thì điều quan trọng là củng cố giữ gìn. Tuy rừng ngập mặn không làm giảm nhiều độ cao sóng trong bão lớn nhưng thời gian tác động của bão thường ngắn vì vậy nên duy trì độ rộng dải rừng ngập mặn cần thiết để các dải rừng ngập mặn đó vẫn tồn tại sau khi bão xảy ra.
    - Trong diều kiện thủy động lực và lan truyền sóng như hiện tại, rất khó có thể trồng được rừng ngập mặn ở vùng ven bờ Cát Hải do xói lở mạnh và thiếu hụt bồi tích cho khu vực này.
      Gửi tin phản hồi Gửi Email In bài viết
    Ý kiến bạn đọc gửi
    Tin tức này chưa có ý kiến nào
    Các tin đã đưa
     
  • Danh mục các nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cấp thành phố năm 2011" (01/11/2012 - 11:09)
  • Lĩnh vực khoa học, xã hội và nhân văn: Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa phục vụ phát triển nông thôn Hải Phòng đến năm 2020" (30/10/2012 - 15:58)
  • Lĩnh vực khoa học, xã hội và nhân văn: Nghiên cứu đề xuất một số chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triển hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn Hải Phòng" (30/10/2012 - 15:57)
  • Lĩnh vực khoa học, xã hội và nhân văn: Nhu cầu tiêu dùng văn hóa phẩm của thanh niên Hải Phòng – Thực trạng và giải pháp định hướng" (30/10/2012 - 15:52)
  • Lĩnh vực khoa học, xã hội và nhân văn: Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác về người Việt Nam ở nước ngoài của thành phố Hải Phòng đến năm 2015" (30/10/2012 - 15:46)
  • Lĩnh vực môi trường: Đánh giá hiện trạng và các tác động của hoạt động khai thác đá vôi trên địa bàn thành phố Hải Phòng, đề xuất các giải pháp quản lý" (30/10/2012 - 15:41)
  • Lĩnh vực môi trường: Đánh giá hiện trạng môi trường và xác định các vấn đề ưu tiên phục vụ quản lý tổng hợp vùng bờ biển Hải Phòng" (30/10/2012 - 15:38)
  • Lĩnh vực môi trường: Nghiên cứu đề xuất giải pháp công nghệ thu, trữ nguồn nước ngọt trên đảo Bạch Long Vỹ phục vụ phát triển kinh tế, xã hội" (30/10/2012 - 15:36)
  • Lĩnh vực y dược: Đánh giá thực trạng nhận thức về sinh sản của lứa tuổi vị thành niên trong các trường học phổ thông tại Hải Phòng" (30/10/2012 - 15:34)
  • Lĩnh vực y dược: Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật thắt búi giãn tĩnh mạch thực quản qua nội soi trong điều trị chảy máu do vỡ tĩnh mạch thực quản do xơ gan" (30/10/2012 - 15:31)
  • Chuyển trang    
    Trang số:  1/3
    Số bản ghi trên trang:
    Đăng nhập
    Liên kết website
    Thông tin truy cập
    Đang tải dữ liệu ...
    LB.Counter