Cổng thông tin điện tử


Thành phố Hải Phòng

Tìm kiếm... Tìm kiếm
Thứ sáu, ngày 15 tháng 11 năm 2019
Danh mục
    Tùy biến hiển thị -
    .DetailListControl,.DetailListControl .lblDetail_Title,.DetailListControl .divDetail_DateCreate,.DetailListControl .divDetail_DateCreate *,.DetailListControl .Detail_Content *,.Detail_Advance *,.MenuNavigatorControl,.MenuNavigatorControl *,.OtherNewsControl,.OtherNewsControl *,.Detail_FeedBackTable,.Detail_FeedBackListTable,.UserNavbarControl .divControl a
    .DetailListControl,.DetailListControl .lblDetail_Title,.DetailListControl .divDetail_DateCreate,.DetailListControl .divDetail_DateCreate *,.DetailListControl .Detail_Content *,.Detail_Advance *,.MenuNavigatorControl,.MenuNavigatorControl *,.OtherNewsControl,.OtherNewsControl *,.Detail_FeedBackTable,.Detail_FeedBackListTable,.UserNavbarControl .divControl a
    .DetailListControl,.DetailListControl .lblDetail_Title,.DetailListControl .divDetail_DateCreate,.DetailListControl .divDetail_DateCreate *,.DetailListControl .Detail_Content *,.Detail_Advance *,.MenuNavigatorControl,.MenuNavigatorControl *,.OtherNewsControl,.OtherNewsControl *,.Detail_FeedBackTable,.Detail_FeedBackListTable,.UserNavbarControl .divControl a
    Màu chữ:
    Pick Color(Màu hiện tại: #000000)
    Màu nền:
    Pick Color(Màu hiện tại: #FFFFFF)
    Kích thước: Tăng Giảm
    Thiết lập lại
    Nghiên cứu đánh giá lan truyền các chất gây ô nhiễm khu vực cửa sông ven biển Hải Phòng bằng mô hình toán học
    17/01/2012 - 08:58

    Nghiên cứu đánh giá lan truyền các chất gây ô nhiễm khu vực cửa sông ven biển Hải Phòng bằng mô hình toán học

     

    Mục tiêu nghiên cứu:

    Đánh giá, dự báo được lan truyền các chất ô nhiễm hữu cơ (BOD, COD), dinh dưỡng (NH4, NO3, PO4) và trầm tích lơ lửng (TSS) ở khu vực cửa sông ven biển Hải Phòng.

    Nội dung nghiên cứu:

    - Thu thập tư liệu về hiện trạng các chất ô nhiễm hữu cơ, dinh dưỡng và trầm tích lơ lửng ở khu vực cửa sông ven biển Hải Phòng.

    - Đánh giá hiện trạng và dự báo lan truyền các chất gây ô nhiễm (các chất ô nhiễm hữu cơ, dinh dưỡng và trầm tích lơ lưởng) tại khu vực cửa sông ven biển Hải Phòng bằng mô hình toán học.

    - Đề xuất các giải pháp kiểm soát, hạn chế tác động do ô nhiễm ở khu vực nghiên cứu.

    Kết quả nghiên cứu:

    1. Thu thập tư liệu về hiện trạng các chất ô nhiễm hữu cơ, dinh dưỡng và trầm tích lơ lửng ở khu vực cửa sông ven biển Hải Phòng

    Nhóm tác giả sử dụng kết quả quan trắc và phân tích của Viện Tài nguyên và Môi trường Biển và Viện Nghiên cứu Hải sản, tại Vạn Bội, Tùng Gấu, Bến Bèo, cửa Vịnh Lan Hạ, Ba Trái Đào, Cửa Vạn, Trạm Vạn Hà, giữa Vịnh Lan Hạ (bán đảo Cát Bà); Nghĩa Lộ (thị trấn Cát Hải); bán đảo Đình Vũ; Bàng La, Bà Đế (thị xã Đồ Sơn) vào cả mùa mưa và mùa khô tới năm 2008. Kết quả cho thấy:

    1.1. Chất hữu cơ:

    Về cơ bản môi trường nước khu vực chưa bị ô nhiễm bởi chất hữu cơ. Tuy nhiên, ô nhiễm cục bộ chất hữu cơ đã và đang xảy ra ở nhiều điểm ven bờ và ngày càng gia tăng về mức độ. Hầu hết các giá trị BOD5, COD đều nhỏ hơn 5mg/l, khu vực sát các điểm dân cư ven bờ có thể đạt tới 15-25mg/l. Ô nhiễm hữu cơ do nước thải, phân động vật, sản xuất nông nghiệp, thuốc bảo vệ thực vật, sản xuất mì chính, chế biến thực phẩm, nuôi trồng thủy sản... là vấn đề hết sức nghiêm trọng đối với vùng ven bờ.

    1.2. Chất dinh dưỡng:

    Môi trường nước đã bị ô nhiễm ở mức ảnh hưởng tai biến môi trường với nhóm dinh dưỡng. Đặc biệt ở khu vực cảng Cát Bà - Cát Hải: hàm lượng N-NO2¯ 0,041 — 0,142mg/l; N-NO3¯   0,102 — 0,206mg/l; N-NO4+  0,003 — 0,015mg/l; P-PO4  0,018 — 0,019mg/l; Nts 0,672 — 0,746mg/l; Pts 0,240 — 0,312mg/l; Si-SiO3 0,250 — 0,302mg/l. Mức ảnh hưởng tai biến môi trường với nhóm dinh dưỡng (RQdinh dưỡng) lên tới 1,27.

    1.3. Trầm tích lơ lửng:

    Vùng ven bờ Hải Phòng có hàm lượng TSS khá cao do chịu ảnh hưởng của khối nước từ các cửa sông Bạch Đằng, sông Cấm đổ ra. Vào mùa mưa, lượng nước trao đổi lớn nên nước có hàm lượng TSS cao, giá trị cao nhất quan sát được là hơn 2.000mg/l tại khu vực cửa Bạch Đằng (Đình Vũ). Phía ngoài cửa Bạch Đằng, hàm lượng TSS trung bình trong mùa mưa đạt 407,6mg/l (tháng 7/2006) và mùa khô (tháng 3/2007) đạt 47,3mg/l. Khu vực phía trong sông Bạch Đằng (Bến Rừng), hàm lượng TSS có giá trị thấp hơn, trung bình đạt 116,8mg/l trong mùa mưa (tháng 6/2007) và 87,4mg/l trong mùa khô (tháng 2/2007). Tại các vùng đất ngập nước đã ghi nhận hàm lượng TSS trong mùa khô là 36mg/l (tháng 4/2003). Khu vực sông Cấm (Bến Bính) có hàm lượng TSS trung bình đạt 367mg/l trong mùa mưa (tháng 9/2007) và 258mg/l trong mùa khô (tháng 1/2008). Khu vực ngoài khơi Cát Bà, hàm lượng TSS khá thấp trung bình 20mg/l trong mùa mưa và 39mg/l trong mùa khô.

    2. Đánh giá hiện trạng và dự báo lan truyền các chất gây ô nhiễm (các chất ô nhiễm hữu cơ, dinh dưỡng và trầm tích lơ lửng) tại khu vực cửa sông ven biển Hải Phòng bằng mô hình toán học

    Nhóm tác giả ứng dụng mô hình toán học 3 chiều dựa trên bộ phần mềm Delft 3d để đánh giá hiện trạng lan truyền các chất gây ô nhiễm tại khu vực cửa sông ven biển Hải Phòng. Mô hình toán học 3 chiều là một công cụ mạnh để có thể mô phỏng tốt các đặc điểm thủy động lực, lan truyền trầm tích lơ lửng, hữu cơ và dinh dưỡng hòa tan ở vùng cửa sông ven biển Hải Phòng. Cụ thể: nhóm tác giả sử dụng hệ lưới cong trực giao để chạy mô hình thủy động lực vào các mùa đặc trưng trong năm: mùa mưa (tháng 8) và mùa khô (tháng 3). Bước thời gian của mô hình là 0,5 phút. Từ đó hiệu chỉnh, đánh giá độ chính xác cho từng vùng.

    Trong điều kiện tính toán, các kết quả của mô hình đã đạt được độ tin cậy cần thiết để tính toán và dự báo mô hình đã đạt được độ tin cậy nhất định để có thể sử dụng làm công cụ để đánh giá dự báo những tác động do hoạt động của con người đến môi trường nước trong khu vực nghiên cứu.

    2.1. Trầm tích lơ lửng:

    Sự phát tán ô nhiễm hữu cơ từ lục địa diễn ra chủ yếu vào mùa mưa và xu hướng lan truyền về phía nam - tây nam của các cửa sông nhiều hơn là đông và đông bắc; theo độ sâu trầm tích lơ lửng ảnh hưởng đến lớp nước tầng mặt mạnh hơn so với các lớp nước ở tầng đáy.

    Dòng ô nhiễm hữu cơ từ các sông ở Hải Phòng ít ảnh hưởng đến khu vực ven bờ phía nam đảo Cát Hải và Cát Bà cả trong mùa mưa và mùa khô. Trong khi đó, vào mùa mưa, dòng trầm tích đi ra từ lục địa ảnh hưởng nhiều đến vùng ven bờ phía nam các cửa sông trong đó có khu vực bãi biển Đồ Sơn.

    Sự gia tăng của nguồn TSS từ lục địa đã có tác động nhất định đến vùng cửa sông ven biển Hải Phòng, tuy nhiên những tác động đó chủ yếu xuất hiện vào mùa mưa và tập trung gần các cửa sông, điểm nguồn thải ven bờ, còn khu vực ven biển Cát Bà và những khu vực khác hầu như không chịu ảnh hưởng.

    2.2. Các chất hữu cơ:

    Do các điều kiện tác động lực và thủy văn, sự phát tán ô nhiễm hữu cơ từ lục địa diễn ra chủ yếu vào mùa mưa và xu hướng lan truyền về phía nam — tây nam của các cửa sông nhiều hơn là đông và đông bắc.

    Dòng ô nhiễm hữu cơ từ các cửa sông ở Hải Phòng ít ảnh hưởng đến khu vực ven biển phía ngoài (nam đảo Cát Hải và Cát Bà) cả trong mùa mưa và mùa khô. Trong khi đó vào mùa mưa, khối nước có hàm lượng ô nhiễm cao ra đi từ lục địa ảnh hưởng nhiều đến vùng ven bờ phía nam các cửa sông trong đó có khu vực bãi biển Đồ Sơn và tây nam cửa Văn Úc.

    Sự gia tăng của nguồn thải từ lục địa đã có tác động nhất định đến vùng cửa sông ven biển Hải Phòng, những tác động đó mạnh hơn vào mùa mưa và tập trung nhiều ở gần các cửa Nam Triệu, tây nam Văn Úc và điểm nguồn thải ven bờ, còn khu vực ven biển phía nam Cát Bà, Cát Hải và những khu vực khác bị ảnh hưởng không đáng kể.

    2.3. Chất dinh dưỡng

    Các kết quả tính toán, dự báo của mô hình cho thấy sự phát tán của các muối dinh dưỡng từ lục địa diễn ra chủ yếu vào mùa mưa và xu hướng lan truyền về phía nam - tây nam của các cửa sông nhiều hơn là đông và đông bắc.

    Dòng dinh dưỡng từ các sông ở Hải Phòng ít ảnh hưởng đến khu vực ven biển phía ngoài (nam đảo Cát Hải và Cát Bà) cả trong mùa mưa và mùa khô. Trong khi đó, vào mùa mưa, khối lượng nước có hàm lượng dinh dưỡng hòa tan cao đi ra từ lục địa ảnh hưởng nhiều đến vùng ven bờ phía nam các cửa sông trong đó có khu vực bãi biển Đồ Sơn và tây nam cửa sông Văn Úc.

    Sự gia tăng của nguồn thải từ lục địa đã có tác động nhất định đến vùng cửa sông ven biển Hải Phòng đặc biệt là nhóm muốn NO3. Những tác động đó mạnh hơn vào mùa mưa và tập trung nhiều ở gần các cửa Nam Triệu, tây nam Văn Úc và điểm nguồn thải ven bờ. Còn khu vực ven biển phía nam Cát Bà, Cát Hải và những khu vực khác bị ảnh hưởng ít.

    3. Đề xuất các giải pháp kiểm soát, hạn chế tác động do ô nhiễm ở khu vực nghiên cứu

    - Giải pháp quy hoạch:

    + Trong quy hoạch nuôi trồng và khai thác thủy sản cần tránh những khu vực có hàm lượng chất ô nhiễm cao.

    + Trong quy hoạch phát triển du lịch, cần giảm thiểu tác động của các nguồn ô nhiễm.

    - Giải pháp khoa học công nghệ: ứng dụng công cụ mô hình để tính toán dự báo thường xuyên lan truyền các chất ô nhiễm vùng cửa sông ven biển Hải Phòng; ứng dụng khoa học công nghệ trong xây dựng hệ thống quan trắc môi trường, kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm trong khu vực (trong đó có các nguồn thải vào sông, biển); trong sản xuất nhằm hạn chế chất thải, đặc biệt là chất thải nguy hại...

    - Quản lý, kiểm soát các nguồn thải gây ô nhiễm.

    - tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường./.

     

      Gửi tin phản hồi Gửi Email In bài viết
    Ý kiến bạn đọc gửi
    Tin tức này chưa có ý kiến nào
    Các tin đã đưa
     
  • Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hải Phòng, thực trạng và giải pháp" (17/01/2012 - 08:59)
  • Đánh giá khả năng tích tụ các chất ô nhiễm hữu cơ bền và kim loại nặng trong môi trường nước, trầm tích, sinh vật ven biển Hải Phòng" (17/01/2012 - 08:57)
  • Nghiên cứu cứu giải pháp phục hồi rừng thứ sinh nghèo trên núi đá vôi tại cùng đệm Vườn Quốc gia Cát Bà" (17/01/2012 - 08:56)
  • Nghiên cứu sử dụng sinh vật chỉ thị đánh giá và giám sát chất lượng môi trường vùng nuôi thủy sản tập trung của thành phố Hải Phòng" (17/01/2012 - 08:55)
  • Nghiên cứu ứng dụng phác đồ Giảm mẫn cảm đặc hiệu đường dưới lưỡi trong điều trị bệnh hen phế quản do Dermatophagoides Pteronyssinus tại Hải Phòng" (06/01/2012 - 15:45)
  • Điều tra đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ hiệu quả loài sơn dương (Capricornis Sumatraensis) tại Vườn Quốc gia Cát Bà" (06/01/2012 - 15:43)
  • Nghiên cứu áp dụng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên một số hệ sinh thái tiêu biểu ven biển Hải Phòng và đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững" (06/01/2012 - 15:42)
  • Nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý chăm sóc giảm nhẹ cho người nhiễm HIV/AIDS tại Hải Phòng" (06/01/2012 - 15:41)
  • Ứng dụng phương pháp bệnh tổng hợp và trị một số bệnh thường gặp trên cá song nuôi lồng biển tại Cát Bà, Hải Phòng" (30/12/2011 - 13:47)
  • Đánh giá hiện trạng, đề xuất cải tiến nhằm khai thác có chọn lọc và nâng cao hiệu quả nghề khai thác lưới rê ở Hải Phòng" (30/12/2011 - 13:44)
  • Chuyển trang    
    Trang số:  1/3
    Số bản ghi trên trang:
    Đăng nhập
    Liên kết website
    Thông tin truy cập
    Đang tải dữ liệu ...
    LB.Counter