Cổng thông tin điện tử


Thành phố Hải Phòng

Tìm kiếm... Tìm kiếm
Thứ năm, ngày 18 tháng 07 năm 2019
Danh mục
    Tùy biến hiển thị -
    .DetailListControl,.DetailListControl .lblDetail_Title,.DetailListControl .divDetail_DateCreate,.DetailListControl .divDetail_DateCreate *,.DetailListControl .Detail_Content *,.Detail_Advance *,.MenuNavigatorControl,.MenuNavigatorControl *,.OtherNewsControl,.OtherNewsControl *,.Detail_FeedBackTable,.Detail_FeedBackListTable,.UserNavbarControl .divControl a
    .DetailListControl,.DetailListControl .lblDetail_Title,.DetailListControl .divDetail_DateCreate,.DetailListControl .divDetail_DateCreate *,.DetailListControl .Detail_Content *,.Detail_Advance *,.MenuNavigatorControl,.MenuNavigatorControl *,.OtherNewsControl,.OtherNewsControl *,.Detail_FeedBackTable,.Detail_FeedBackListTable,.UserNavbarControl .divControl a
    .DetailListControl,.DetailListControl .lblDetail_Title,.DetailListControl .divDetail_DateCreate,.DetailListControl .divDetail_DateCreate *,.DetailListControl .Detail_Content *,.Detail_Advance *,.MenuNavigatorControl,.MenuNavigatorControl *,.OtherNewsControl,.OtherNewsControl *,.Detail_FeedBackTable,.Detail_FeedBackListTable,.UserNavbarControl .divControl a
    Màu chữ:
    Pick Color(Màu hiện tại: #000000)
    Màu nền:
    Pick Color(Màu hiện tại: #FFFFFF)
    Kích thước: Tăng Giảm
    Thiết lập lại
    Đánh giá khả năng tích tụ các chất ô nhiễm hữu cơ bền và kim loại nặng trong môi trường nước, trầm tích, sinh vật ven biển Hải Phòng
    17/01/2012 - 08:57

    Đánh giá khả năng tích tụ các chất ô nhiễm hữu cơ bền và kim loại nặng trong môi trường nước, trầm tích, sinh vật ven biển Hải Phòng

     

    Mục tiêu nghiên cứu:

    - Xây dựng bộ số liệu cơ bản về đặc điểm mức độ tích tụ các chất ô nhiễm hữu cơ bền (Aroclor 1016, 1242, 1248, 1254, 1260) và kim loại nặng (Cu, Pb, Zn, Cd, Hg, As) vào ba hợp phần môi trường ven biển Hải Phòng là nước, trầm tích, sinh vật.

    - Đánh giá nguy cơ tích tụ của chúng trong môi trường theo quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hải Phòng.

    Nội dung nghiên cứu:

    - Đánh giá hiện trạng ô nhiễm các hợp chất hữu cơ bền, kim loại nặng khu vực bờ biển Hải Phòng nước, trầm tích, và một số sinh vật.

    - Đánh giá phân bố và khả năng tích tụ các hợp chất hữu cơ bền (PCBs, OCPs) và kim loại nặng (HMs) trong một số sinh vật ven biển Hải Phòng.

    - Đánh giá tích tụ trong môi trường vùng cửa sông ven biển Hải Phòng theo quy hoạch phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020.

    - Đề xuất các hoạt động cần nghiên cứu tiếp theo để phục vụ các bước phát triển bền vững tiếp theo của thành phố Hải Phòng cũng như góp phần thực hiện mục tiêu của công ước Stockholm và phát triển bền vững.

    Kết quả nghiên cứu:

    Để đánh giá hiện trạng ô nhiễm các hợp chất hữu cơ bền, kim loại nặng khu vực bờ biển Hải Phòng, tác giả đã tiến hành khảo sát 11 mặt cắt trong vùng nghiên cứu bao gồm 6 mặt cắt phía biển là các cửa sông chính của Hải Phòng và 5 mặt cắt sông khu giáp ranh với các tỉnh lân cận.

    Đồng thời phân tích chất ô nhiễm hữu cơ bền và kim loại nặng đồng bộ trong ba hợp phần: nước, trầm tích, sinh vật (tôm, cá, ngao) của khu vực ven biển Hải Phòng và hai hợp phần: nước sông, trầm tích sông tại khu vực giáp ranh trên các sông chính của Hải Phòng với các tỉnh lân cận.

    Tổng số mẫu phân tích phía biển gồm: 108 mẫu nước biển, 108 mẫu trầm tích biển, 108 mẫu sinh vật (tôm, ngao, cá). Phía giáp ranh trên sông với các tỉnh lân cận gồm: 90 mẫu nước sông, 90 mẫu trầm tích sông. Trong đó, có thực hiện phân tích 30 mẫu trầm tích liên phòng thí nghiệm với IDHESA/BREST - Pháp.

    1. Hiện trạng phân bố OCPs, PCBs, HMs trong môi trường ven biển Hải Phòng: nước, trầm tích và một số sinh vật

    1.1. Phân bố chất ô nhiễm OCPs, PCBs, HMs vùng ven biển Hải Phòng

    Trong môi trường nước, chất ô nhiễm Dieldrin, DDT đã vượt tiêu chuẩn QCVN2008: 10 từ 1 đến 4 lần.

    Trong môi trường trầm tích, chất ô nhiễm Lindan, và ∑PCBs đã vượt tiêu chuẩn ISQG Canada năm 2003 từ 1 đến 1,28 lần, và hầu hết các kim loại nặng đã vượt giới hạn tiêu chuẩn chất lượng trầm tích Canada 2003.

    Trong mô thịt một số sinh vật, chất ô nhiễm OCPs, PCBs chưa vượt giới hạn cho phép của Mỹ, nhưng nhóm chất HMs đã vượt tiêu chuẩn cho phép của ngành (Bộ thủy sản cũ).

    1.2. Phân bố chất ô nhiễm OCPs, PCBs, HMs vùng giáp ranh trên sông với tỉnh lân cận

    Trong môi trường nước sông, các chất ô nhiễm OCPs, PCBs, và HMs chưa vượt giới hạn cho phép của tiêu chuẩn bảo vệ môi trường QCVN2008:10 và tiêu chuẩn ISQG Canada năm 2003.

    Trong môi trường trầm tích sông, hầu hết HMs đã vượt giới hạn cho phép ISQGs Úc 2000 từ 2,2 đến 4,3 lần.

    Sự phân bố nồng độ chất ô nhiễm trong nước và trầm tích sông cho thấy khả năng tích tụ các chất ô nhiễm OCPs, PCBs và HMs trong trầm tích sông rất cao. Bên cạnh đó, nồng độ các chất ô nhiễm hữu cơ bền OCPs, PCBs và HMs trong nước sông vùng giáp ranh các tỉnh lân cận cao hơn khu vực cửa sông ven biển Hải Phòng từ 1,46 lần với OCPs và 8,8 lần với PCBs đã cho thấy khả năng lan truyền các chất ô nhiễm từ các tỉnh lân cận vào Hải Phòng.

    1.3. Phân bố chất ô nhiễm trong một số sinh vật cửa sông vùng Hải Phòng

    Trong tôm:

    +Nồng độ ∑OCPs trong tôm dao động từ 5,12ng/g đến 0,71ng/g. Khu vực tôm có nồng độ ∑OCPs cao nhất là cửa sông ven biển Lạch Tray, tiếp đến là Bạch Đằng. Thấp nhất là khu vực cửa sông ven biển Văn Úc và biển ven bờ Cát Bà. Trong hai tiểu vùng là 4 cửa sông ven biển từ Bạch Đằng đến Thái Bình và biển ven bờ Cát Bà, Đồ Sơn, nồng độ ∑OCPs tại khu vực bốn cửa sông ven biển cao hơn các vùng khác.

    + Nồng độ ∑PCBs trong tôm dao động trong khoảng từ 2,25ng/g đến 52,82ng/g. Khu vực tôm có nồng độ ∑PCBs cao nhất là cửa sông ven biển Lạch Tray, Văn Úc, tiếp đến là Đồ Sơn và thấp nhất là Cát Bà.

    + Nhóm nguyên tố ô nhiễm HMs trong tôm có hàm lượng cao ở vùng cửa sông Lạch Tray, Văn Úc, Thái Bình, giảm dần về hướng cửa sông Bạch Đằng và khu vực ven biển Cát Bà, Đồ Sơn.

    - Trong cá:

    + Nồng độ ∑OCPs trong cá cao nhất là vùng cửa sông ven biển Lạch Tray (6.11ng/g), tiếp đến là Văn Úc (7.79ng/g). Khu vực có nồng độ ∑OCPs trong cá thấp nhất là biển ven bờ Cát Bà, cuối cùng là Đồ Sơn. Nồng độ ∑OCPs trong cá ở vùng bốn cửa sông ven biển luôn cao hơn ở hai vùng biển ven bờ Cát Bà.

    + Nồng độ ∑PCBs trong cá thấp nhất là khu vực biển ven bờ cửa Thái Bình và Bạch Đằng. Nồng độ ∑PCBs trong cá ở vùng bốn cửa sông ven biển có xu hướng thấp hơn ở hai vùng biển ven bờ Cát Bà, Đồ Sơn.

    + Nồng độ HMs trong các vùng cửa sông ven biển Hải Phòng tập trung cao nhất ở khu vực Lạch Tray, giảm dần về cửa Bạch Đằng và cửa Thái Bình.

    - Trong ngao:

    + Nồng độ ∑OCPs trong ngao cao nhất tại vùng cửa sông ven biển Bạch Đằng (45,43ng/g), tiếp đến là Văn Úc (51,27ng/g). Khu vực có nồng độ ∑OCPs trong ngao thấp nhất là biển ven bờ Cát Bà, tiếp đến là Đồ Sơn. Nồng độ ∑OCPs ở vùng bốn cửa sông ven biển luôn cao hơn ở hai vùng biển ven bờ Cát Bà, Đồ Sơn.

    + Nồng độ PCBs và HMs các khu vực cửa sông cao hơn khu vực biển ven bờ Hải Phòng.

    2. Khả năng tích tụ OCPs, PCBs, HMs trong một số sinh vật ven biển Hải Phòng

    - Hệ số tích tụ ∑OCPs trong tôm dao động từ 113,77 tại cửa sông Văn Úc đến 586,88 tại cửa Bạch Đằng; Trong cá từ 346,71 tại khu vực Đồ Sơn đến 1512,47 tại khu vực cửa Lạch Tray; Trong ngao từ 4,40 tại Cát Bà đến 29,98 tại khu vực cửa Bạch Đằng. Như vậy, hệ số tích tụ ∑OCPs trong sinh vật gia tăng từ ngao (mắt xích thấp trong chuỗi thức ăn) đến cá cửa sông (mắt xích cao trong chuỗi thức ăn). Nếu theo xu hướng tích tụ OCPs trong sinh vật từ thấp đến cao ở vùng cửa sông ven biển Hải Phòng là: ngao, tôm, cá.

    - Hệ số tích tụ ∑PCBs trong ngao dao động từ 3,56 tại khu vực cửa sông Thái Bình đến 45,09 ở khu vực Cát Bà; Trong tôm từ 42,45 ở khu vực Cát Bà đến 210,32 ở khu vực cửa sông Thái Bình; Trong cá dao động từ 32,83 ở khu vực cửa sông Bạch Đằng đến 569,43 khu vực Cát Bà. Hệ số tích tụ ∑PCBs trong sinh vật cũng có xu hướng tăng từ ngao (động vật bậc thấp) đến cá, tôm (động vật bậc cao). Xu hướng tích tụ ∑PCBs trong sinh vật từ thấp đến cao ở vùng cửa sông ven biển Hải Phòng là: ngao, cá, tôm.

    - Hệ số tích tụ ∑HMs trong ngao dao động từ 0,54 ở cửa Văn Úc đến 0,77 tại cửa Thái Bình; Trong cá là 1089,31 tại khu vực Đồ Sơn đến 6545,02 tại cửa Văn Úc; Trong tôm là 567,88 tại cửa Lạch Tray đến 8766,39 tại cửa Văn Úc. Xu hướng tích tụ các nguyên tố ô nhiễm HMs gia tăng từ thấp đến cao theo thứ tự ngao, cá, tôm.

    Sự phân bố nồng độ trong ba hợp phần môi trường gia tăng từ nước sang trầm tích và sinh vật đã cho thấy khả năng tích tụ cao chất ô nhiễm hữu cơ bền và kim loại nặng trong trầm tích và trong sinh vật. Trong đó, mức độ tích tụ chất ô nhiễm OCPs, PCBs và HMs trong sinh vật cao hơn trong trầm tích mặt.

    3. Đánh giá tích tụ trong môi trường vùng cửa sông ven biển Hải Phòng theo quy hoạch phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020

    3.1. Dự báo nguồn ô nhiễm theo quy hoạch

    Các chất ô nhiễm OCPs, PCBs, HMs tích tụ trong trầm tích từ quá trình lắng đọng của các vật chất hữu cơ hòa tan hoặc dạng huyền phù từ nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nông nghiệp, chế biến nông thủy sản. Do đó, mức độ tích tụ trong trầm tích cũng như trong môi trường nước chịu ảnh hưởng lớn từ sự biến đổi hàm lượng chất lơ lửng (TSS) và lượng nước thải sau xử lý của các nhóm ngành vào môi trường.

    Nguồn sinh hoạt: Dự báo tổng tải lượng thải từ nguồn sinh hoạt

    Thông số

    2008

    2015

    Tốc độ

    2020

    Tốc độ

    Thể tích nước thải (m3)

    55.377.000

    58.800.000

    6,32%

    67.800.000

    15,30%

    TSS (tấn/năm)

    36.918

    39.200

    6,18%

    45.200

    15.30%

    Nguồn nông nghiệp:

    - Chăn nuôi: Dự báo tải lượng thải từ hoạt động chăn nuôi

    Thông số

    2008

    2015

    Tốc độ

    2020

    Tốc độ

    Thể tích nước thải (m3)

    10.066.395

    17.530.430

    74,15%

    42.106.255

    140,19%

    TSS (tấn/năm)

    417.595

    727.233

    74,14%

    1.746.738

    140,18%

    - Trồng trọt: Dự báo lượng TSS trong giai đoạn 2010 - 2020 khu vực Hải Phòng tăng đáng kể từ trồng trọt, nếu không có các biện pháp xử lý tốt thì môi trường sẽ bị ô nhiễm nặng.

    Nguồn công nghiệp: Kết quả dự báo lượng nước thải sinh hoạt và chất rắn lơ lửng của công nhân ở các cơ sở sản xuất được trình bày trong bảng sau:

    Các thông số

    50% tải lượng đơn vị

    Hiệu quả xử lý (%)

    Tổng tải lượng (m3, tấn/năm)

    Tốc độ

    2006

    2010-2020

    Nước thải

    15 m3/người/năm

    0

    240.000

    270.000

    12,5%

    TSS

    10 kg/người/năm

    70

    48,0

    54,0

    12,5%

    3.2. Dự báo khả năng tích tụ chất ô nhiễm OCPs, PCBs, HMs trong môi trường nước và trầm tích

    Theo quy hoạch phát triển kinh tế xã hội thành phố Hải Phòng đến năm 2020, dựa trên tốc độ gia tăng tổng lượng nước thải từ công nghiệp cũng như lượng tổng chất rắn lơ lửng (TSS) thải từ các nguồn sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ thì chất ô nhiễm sẽ gia tăng từ theo thứ tự từ thấp đến cao ở môi trường nước là: OCPs<HMs<PCBs; trong môi trường trầm tích là: OCPs<PCBs<HMs. Khi đó, mức độ tích tụ sinh học ước tính sẽ tăng lên khoảng 1 lần vào năm 2015 và khoảng 1,56 lần vào năm 2020.

    3.3. Dự báo khả năng tích tụ trong một số sinh vật.

    Nhóm OCPs:

    Trong vùng biển ven bờ Hải Phòng, khả năng tích tụ sinh học của các chất ô nhiễm hữu cơ bền OCPs rất cao. Xét trong ba loài khảo sát là tôm, cá và ngao thấy hệ số tích tụ sinh học cho toàn vùng trung bình là 461,70. Trong đó, hệ số tích tụ sinh học OCPs trong tôm là 493,72, trong cá là 873,07 và trong ngao là 18,33. Như vậy, với nhóm OCPs thì khả năng tích tụ trong cá ở vùng biển ven bờ Hải Phòng là cao nhất trong ba loài.

    Nếu bỏ qua khả năng bão hòa trong sinh vật và chỉ áp dụng tốc độ tăng lên của chất ô nhiễm từ sự gia tăng nước thải vào môi trường cho tôm, cá và trong trầm tích cho ngao theo quy hoạch phát triển kinh tế, hệ số tích tụ sinh học sẽ tăng lên khoảng từ 1,06 đến 1,40 lần vào năm 2015 và tăng khoảng từ 1,12 đến 1,56 lần vào năm 2020.

    Nhóm PCBs:

    Trong vùng biển ven bờ Hải Phòng, khả năng tích tụ sinh học của các chất ô nhiễm hữu cơ bền PCBs rất cao. Xét trong ba loài khảo sát là tôm, cá và ngao thấy hệ số tích tụ sinh học cho toàn vùng trung bình là 124,61. Trong đó, hệ số tích tụ sinh học PCBs trong tôm là 146,76, trong cá là 207,51 và trong ngao là 19,54. Như vậy, với nhóm PCBs thì khả năng tích tụ trong cá ở vùng biển ven bờ Hải Phòng là cao nhất năm 2009.

    Nếu áp dụng tốc độ tăng lên của chất ô nhiễm từ sự gia tăng nước thải vào môi trường cho tôm, cá và trong trầm tích cho ngao theo quy hoạch phát triển kinh tế, hệ số tích tụ sinh học của nhóm PCBs sẽ tăng lên từ 1 đến 1,39 lần vào năm 2015 và tăng từ 1,13 đến 1,56 lần vào năm 2020.

    Nhóm HMs:

    Trong vùng biển ven bờ Hải Phòng, khả năng tích tụ sinh học của các nguyên tố ô nhiễm kim loại nặng rất cao. Xét trong ba loài khảo sát là tôm, cá và ngao thấy hệ số tích tụ sinh học cho toàn vùng trung bình là 2,71. Trong đó, hệ số tích tụ sinh học HMs trong tôm là 4,31, trong cá là 3,16 và trong ngao là 0,67. Như vậy, với nhóm HMs thì khả năng tích tụ trong tôm ở vùng biển ven bờ Hải Phòng là cao nhất năm 2009.

    Nếu bỏ qua khả năng bão hòa trong sinh vật và chỉ áp dụng tốc độ tăng lên của chất ô nhiễm từ sự gia tăng nước thải vào môi trường cho tôm, cá và trong trầm tích cho ngao theo quy hoạch phát triển kinh tế, hệ số tích tụ sinh học sẽ tăng lên khoảng từ 1,02 đến 1,43 lần vào năm 2015 và tăng khoảng từ 1,13 đến 1,59 lần vào năm 2020.

    Hệ số tích tụ sinh học còn cho thấy sự khác nhau không chỉ ở các loài được nghiên cứu mà còn cho thấy sự khác nhau rất rõ giữa các khu vực. Đặc biệt là khu vực bốn cửa sông ven biển và khu vực hai biển ven bờ. Khả năng gia tăng chất ô nhiễm trong môi trường ước tính theo quy hoạch phát triển kinh tế đến năm 2020 có thể sẽ làm tăng mức độ tích tụ chất ô nhiễm trong sinh vật lên từ 1 lần đến 1,5 lần với nhóm chất OCPs, PCBs, HMs. Khi đó, số lượng hầu hết các đơn chất sẽ vượt tiêu chuẩn cho phép trong môi trường cũng như trong một số sinh vật ven biển.

    4. Đề xuất các hoạt động cần nghiên cứu tiếp theo để phục vụ các bước phát triển bền vững tiếp  theo của thành phố Hải Phòng

    4.1. Xây dựng hướng nghiên cứu tích tụ chất ô nhiễm hữu cơ bền - chất thải nguy hại

    Để thực hiện nghiên cứu tốt hơn, trước tiên phải đầu tư trang thiết bị phân tích mới và hiện đại cho phòng thí nghiệm IMER, như: GC-MS, ICP-MS.

    4.2. Tăng cường hợp tác Brest - Hải Phòng để xây dựng được phòng thí nghiệm môi trường biển chất lượng quốc tế của Hải Phòng

    Cần tăng cường cử cán bộ chuyên môn sang Brest tập huấn theo các lĩnh vực chuyên môn: phân tích ô nhiễm dạng vết, khai thác quản lý thông tin kết quả nghiên cứu, quản lý tổng hợp vùng bờ phục vụ phát triển hài hòa các lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường.

    Được cấp kinh phí để tiếp tục cùng Brest nghiên cứu chất ô nhiễm trong sông của Hải Phòng, và trong sinh vật biển để tiếp đến xác định giới hạn tiêu thụ an toàn thực phẩm hải sản, (Acceptable daily Intake — ADI-) bảo vệ sức khỏe cộng đồng./.

      Gửi tin phản hồi Gửi Email In bài viết
    Ý kiến bạn đọc gửi
    Tin tức này chưa có ý kiến nào
    Các tin đã đưa
     
  • Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hải Phòng, thực trạng và giải pháp" (17/01/2012 - 08:59)
  • Nghiên cứu đánh giá lan truyền các chất gây ô nhiễm khu vực cửa sông ven biển Hải Phòng bằng mô hình toán học" (17/01/2012 - 08:58)
  • Nghiên cứu cứu giải pháp phục hồi rừng thứ sinh nghèo trên núi đá vôi tại cùng đệm Vườn Quốc gia Cát Bà" (17/01/2012 - 08:56)
  • Nghiên cứu sử dụng sinh vật chỉ thị đánh giá và giám sát chất lượng môi trường vùng nuôi thủy sản tập trung của thành phố Hải Phòng" (17/01/2012 - 08:55)
  • Nghiên cứu ứng dụng phác đồ Giảm mẫn cảm đặc hiệu đường dưới lưỡi trong điều trị bệnh hen phế quản do Dermatophagoides Pteronyssinus tại Hải Phòng" (06/01/2012 - 15:45)
  • Điều tra đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ hiệu quả loài sơn dương (Capricornis Sumatraensis) tại Vườn Quốc gia Cát Bà" (06/01/2012 - 15:43)
  • Nghiên cứu áp dụng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên một số hệ sinh thái tiêu biểu ven biển Hải Phòng và đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững" (06/01/2012 - 15:42)
  • Nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý chăm sóc giảm nhẹ cho người nhiễm HIV/AIDS tại Hải Phòng" (06/01/2012 - 15:41)
  • Ứng dụng phương pháp bệnh tổng hợp và trị một số bệnh thường gặp trên cá song nuôi lồng biển tại Cát Bà, Hải Phòng" (30/12/2011 - 13:47)
  • Đánh giá hiện trạng, đề xuất cải tiến nhằm khai thác có chọn lọc và nâng cao hiệu quả nghề khai thác lưới rê ở Hải Phòng" (30/12/2011 - 13:44)
  • Chuyển trang    
    Trang số:  1/3
    Số bản ghi trên trang:
    Đăng nhập
    Liên kết website
    Thông tin truy cập
    Đang tải dữ liệu ...
    LB.Counter