Hải Phòng, ngày 16 tháng 09 năm 2019

Nghiên cứu ứng dụng phác đồ Giảm mẫn cảm đặc hiệu đường dưới lưỡi trong điều trị bệnh hen phế quản do Dermatophagoides Pteronyssinus tại Hải Phòng

 

Mục tiêu nghiên cứu:

Ứng dụng phương pháp giảm mẫn cảm đặc hiệu đường dưới lưỡi trong điều trị hen phế quản do dermatophagoides pteronyssinus.

Nội dung nghiên cứu:

- Thu thập, xử lý, hệ thống hóa các thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu.

- Lựa chọn phác đồ điều trị giảm mẫn cảm đặc hiệu đường dưới lưỡi.

- Ứng dụng phác đồ điều trị đã lựa chọn cho 200 bệnh nhân có chỉ định theo 2 giai đoạn.

- So sánh hiệu quả của phương pháp giảm mãn cảm đặc hiệu đường dưới lưỡi và đường tiêm dưới da.

- Hoàn thiện phác đồ điều trị giảm mẫn cảm đặc hiệu đường dưới lưỡi.

 

Kết quả nghiên cứu:

1. Lựa chọn phác đồ điều trị giảm mẫn cảm đặc hiệu đường dưới lưỡi:

Nhóm nghiên cứu tiến hành giảm mẫn cảm theo phương pháp của Bousquet J (1999) bởi những nguyên nhân sau:

- Đây là phương pháp được đề xuất ứng dụng từ năm 1999, nhiều tác giả trong và ngoài nước đã áp dụng với dị nguyên bụi nhà toàn phần và dị nguyên D.pteronyssinus đạt kết quả tốt.

- Hiện nay, dị nguyên D.pteronyssinus đã được sản xuất và tiêu chuẩn hóa ở Việt Nam, nồng độ chuẩn hóa được tính theo đơn vị IR/ml theo phác đồ điều trị của Bousquet J đã đề ra.

Quy trình điều trị hen phế quản dị ứng bằng liệu pháp miễn dịch đường dưới lưỡi Bousquet J

Dị nguyên Dermatophagoides pteronyssinus

Thì bắt đầu (25 ngày)

Ngày 1 - 4

1 - 3 - 4 - 6 liều

 

 

1 IR/ml

Ngày 5 -8

1 - 3 - 6 - 10 liều

 

 

10 IR/ml

Ngày 9 - 16

1 - 2 - 4 - 6 - 8 - 12 - 16 - 20 liều

 

100 IR/ml

Ngày 17 - 25

5 - 6 - 8 - 10 - 12 - 14 - 16 - 18 - 20 liều

300 IR/ml

Thì duy trì (300 IR/ml): 4 liều/ngày hoặc 8 liều 3 lần/tuần

2. Ứng dụng phác đồ điều trị đã lựa chọn cho 200 bệnh nhân có chỉ định theo 2 giai đoạn:

Hen phế quản dị ứng với D.pteronyssinus chiếm tỷ lệ cao và gặp ở mọi giới, mọi lứa tuổi. Bệnh bắt đầu từ khi còn trẻ và qua nhiều năm sau càng trở nên xấu hơn. Trong 200 bệnh nhân, nhóm tuổi 10 - 19 chiếm tỷ lệ cao nhất (25%), tiếp đến nhóm 30 - 39 tuổi (23,5%) và nhóm 40 - 49 tuổi (23%).

- Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh từ 1 - 5 năm cao nhất (51,5%).

- Hầu hết bệnh nhân có tiền sử viêm mũi xoang dị ứng (73,5%), mày đay, sẩn ngứa (33,5%) và dị ứng thức ăn (26,5%), dị ứng thuốc (11,5%).

- Đa số bệnh nhân có tiền sử dị ứng gia đình (66,5%). Như vậy, hen phế quản là bệnh của hệ thống miễn dịch có tính chất di truyền.

- Cơn khó thở xuất hiện ở trong nhà (66,5%) nhiều hơn ở ngoài đường (25%), đặc biệt khi thay đổi thời tiết (81,5%), khi rũ chăn chiếu (71,5%) và khi quét dọn nhà (70%).

- Bệnh xuất hiện quanh năm nhưng đặc biệt xuất hiện vào mùa đông và mùa xuân (71,5%).

- Trong các tiền triệu cơn khó thở (ngứa họng, ho, ngứa mũi, hắt hơi, chảy nước mũi, tức ngực), hay gặp nhất là ho và ngứa họng (81,5%), sau đó là ngứa mũi, hắt hơi (68,5%), tức ngực (70%), chảy nước mũi (45%).

2.2. Sự thay đổi một số dấu hiệu lâm sàng sau 12 tháng điều trị liệu pháp miễn dịch:

- Trước điều trị, các dấu hiệu thường gặp là ho khan (trên 80%), tức ngực (70%), ngứa họng (trên 80%), hắt hơi (trên 60%)... Số đợt bùng phát trên 2 lần/tháng, chiếm 94% số bệnh nhân. Sau điều trị, các triệu chứng trên có xu hướng giảm xuống rõ rệt như ho (46%), tức ngực (33%), ngứa họng (46%), hắt hơi (26%).

- Thăm khám thực thể bệnh nhân hen phế quản cho thấy, trước điều trị, đa số bệnh nhân có biểu hiện rối loạn nhịp thở. Sau thời gian điều trị, có 83% bệnh nhân có tần số thở trở về bình thường. Khi nghe phổi bệnh nhân có cả ran rít + ran ngáy đã giảm đáng kể từ 71 - 80% xuống còn 20%. Đặc biệt, 80% bệnh nhân không còn khó thở sau 12 tháng điều trị.

2.2. Sự thay đổi một số chỉ tiêu trước và sau 12 tháng điều trị liệu pháp miễn dịch:

- Một số chỉ tiêu chức năng hô hấp: Trước điều trị, các chỉ số FVC, FEV1, PEF thấp hơn nhiều so với bình thường, thể hiện sự rối loạn thông khí hạn chế và thông khí tắc nghẽn. Sau điều trị, các chỉ tiêu này đều tăng rõ rệt. Điều này phù hợp với các biến đổi của triệu chứng lâm sàng là không còn cơn khó thở hoặc cơn khó thở giảm nhiều cả về mức độ và số lượng trong 1 tháng.

- Kết quả test lẩy da: Trước điều trị, bệnh nhân có test lẩy da dương tính với dị nguyên D.pteronyssinus là 100%. Sau 12 tháng điều trị, có 27% có test lẩy da âm tính.

- Phản ứng phân hủy mastocyte ở các bệnh nhân được tiến hành trước lúc điều trị và cho tỷ lệ dương tính 93%. Sau 12 tháng điều trị, không còn bệnh nhân nào cho tỷ lệ dương tính 4(+), chủ yếu tập trung ở mức độ 1(+) và 2(+). Đặc biệt, có 30% bệnh nhân cho phản ứng phân hủy mastocyte âm tính.

- Nồng độ IgE toàn phần trong huyết thanh của bệnh nhân trước điều trị là 611,67 ± 225,59 UI/ml, cao hơn hẳn so với người bình thường. Sau điều trị, nồng độ này giảm còn 310,17 ± 131,34 UI/ml.

- Nồng độ IgG toàn phần trước điều trị là 976,67 ± 122,29mg%. Sau điều trị, nồng độ này tăng rõ rệt (1825,60 ± 247,07mg%). Điều này chứng tỏ sau điều trị, các bệnh nhân đã tăng lượng kháng thể bảo vệ.

- Không có bệnh nhân nào trước điều trị có nồng độ IgE đặc hiệu dưới 0,35 KU/L. Hàm lượng này tập trung ở mức 2 - 4(+), mức độ dương tính 5 - 6(+) cũng chiếm tỷ lệ khá lớn. Sau điều trị, hàm lượng IgE đặc hiệu chuyển về mức dưới 0,35 chiếm tới 24%, mức độ dương tính chuyển dần về mức 1 - 2(+).

3. So sánh hiệu quả của phương pháp giảm mẫn cảm đặc hiệu đường dưới lưỡi và đường tiêm dưới da

Tiến hành so sánh kết quả của 200 bệnh nhân điều trị liệu pháp miễn dịch đường dưới lưỡi với 100 bệnh nhân điều trị liệu pháp miễn dịch đường tiêm dưới da để so sánh hiệu quả điều trị. Kết quả của 100 bệnh nhân điều trị đường tiêm đã được thực hiện ở đề tài do PGS.TS Phạm Văn Thức làm chủ nhiệm, được nghiệm thu năm 2006.

Bảng: Kết quả sau 12 tháng điều trị

Chỉ tiêu

 

Mức độ

Tiêm trong da

 

(n = 100)

Dưới lưỡi

 

(n = 200)

n

%

n

%

Tốt

23

23

60

30

Khá

47

47

80

40

Trung bình

24

24

48

24

Kém

6

6

12

6

Tổng

100

100

200

100

- Liệu pháp miễn dịch đường tiêm có nhiều hạn chế như gây đau, sưng tê tại chỗ tiêm, kỹ thuật khó. Phương pháp này không thuận lợi cho các bệnh nhân hay đi công tác hoặc sống ở xa các cơ sở y tế, nhiều bệnh nhân bỏ điều trị giữa chừng hoặc từ chối điều trị.

- Việc nghiên cứu, áp dụng phác đồ điều trị theo Bousquet J để tăng hiệu quả của liệu pháp miễn dịch cho bệnh nhân hen phế quản là cần thiết. Mặt khác, dị nguyên D.pteronyssinus đã được chuẩn hóa ở Việt Nam theo đơn vị quốc tế IR/ml phù hợp với liệu trình Bousquet J.

4. Hoàn thiện phác đồ điều trị giảm mẫn cảm đặc hiệu đường dưới lưỡi

Quy trình áp dụng như sau:

 

Dị nguyên Dermatophagoides Pteronyssinus

Thì bắt đầu (24 ngày)

Ngày 1 - 4

1 - 3 - 4 - 6 giọt

 

 

1 IR/ml

Ngày 5 -8

1 - 3 - 6 - 10 giọt

 

 

10 IR/ml

Ngày 9 - 16

1 - 2 - 4 - 6 - 8 - 12 - 16 - 20 giọt

 

100 IR/ml

Ngày 17 - 24

6 - 8 - 10 - 12 - 14 - 16 - 18 - 20 giọt

 

300 IR/ml

Thì duy trì (300 IR/ml): 4 giọt /ngày hoặc 8 giọt 3 lần/tuần

Trong 2 tuần đầu bệnh nhân được nhỏ tại cơ sở y tế, sau nhỏ theo dõi 30 phút, các tuần bệnh sau bệnh nhân tự nhỏ tại nhà theo hướng dẫn của cán bộ y tế.

- Nhỏ thuốc xa bữa ăn.

- Súc miệng trước khi nhỏ thuốc.

- Sau khi nhỏ dưới lưỡi, ngậm thuốc trong vòng 5 phút, sau đó có thể nuốt hoặc uống nước./.