W3Counter












































Dự thảo đề án của UBND thành phố về nhiệm vụ, giải pháp xây dựng nông thôn mới thành phố Hải Phòng giai đoạn 2012-2015, định hướng đến năm 2020
28/06/2012 - 10:33

Dự thảo đề án của UBND thành phố về nhiệm vụ, giải pháp xây dựng nông thôn mới thành phố Hải Phòng giai đoạn 2012-2015, định hướng đến năm 2020

(Trình kỳ họp thứ 4, HĐND thành phố khoá 14)        

Thành phố Hải Phòng có vùng nông thôn rộng lớn, có vai trò quan trọng đối với sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn Hải Phòng đã đạt được nhiều thành tựu. Nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển dịch theo hướng tích cực. Sản xuất nông, lâm, thuỷ sản chuyển mạnh từ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá phục vụ cho khu vực thành thị, các khu công nghiệp, phục vụ chế biến và xuất khẩu; đồng thời góp phần tạo cảnh quan môi trường, phát triển dịch vụ và du lịch của thành phố; nông thôn đã có bước khởi sắc, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tập trung xây dựng, củng cố, nâng cấp; đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn từng bước được cải thiện; hệ thống chính trị cơ sở được tăng cường, quyền dân chủ được phát huy, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nông thôn được giữ vững.

Trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết Đại hội 11 của Đảng và các văn bản do Trung ương và thành phố ban hành, nhằm cụ thể hoá và tổ chức thực hiện, triển khai Nghị quyết số 26-NQ/TƯ ngày 5-8-2008 Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng (khoá 10) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4-6-2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020; Chương trình hành động của Thành uỷ về thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khoá 10) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ 14; trước những yêu cầu thực tiễn thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố, UBND thành phố xây dựng Đề án về Nhiệm vụ, giải pháp xây dựng nông thôn mới thành phố Hải Phòng giai đoạn 2012 – 2015, định hướng đến năm 2020, nghiên cứu, xác định mục tiêu, nhiệm vụ và đề ra các giải pháp thực hiện các nội dung Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố một cách toàn diện, hoàn thành các tiêu chí trong Bộ Tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, trình HĐND thành phố ban hành nghị quyết để các cấp, các ngành, các địa phương triển khai thực hiện, thực sự huy động được sức mạnh của toàn hệ thống chính trị triển khai thành công Chương trình xây dựng nông thôn mới thành phố Hải Phòng, xây dựng nông thôn Hải Phòng có kinh tế phát triển; dân trí, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao; nông thôn phát triển theo quy hoạch, cơ cấu hạ tầng kinh tế, xã hội từng bước hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ; bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy; xã hội dân chủ; quốc phòng, an ninh và hệ thống chính trị vững mạnh.

Đề án gồm 3 phần:

I. Thực trạng xây dựng nông thôn mới thành phố Hải Phòng.

II. Mục tiêu nhiệm vụ, giải pháp xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2012 –2015, định hướng đến năm 2020.

III. Tổ chức thực hiện.

Phần thứ nhất

THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

I. TÌNH HÌNH CHUNG:

Thành phố có 15 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 7 quận, 6 huyện đất liền và 2 huyện đảo; có 223 xã, phường, thị trấn (143 xã, 10 thị trấn, 70 phường). Tổng diện tích đất tự nhiên 151.921 ha, trong đó đất nông nghiệp 53.862 ha (35,45%), đất lâm nghiệp 23.752 ha (15,63%), diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 12.310 ha (8,10%), đất chuyên dùng và đất ở 46.671 ha (30,72%), đất chưa sử dụng 15.325 ha (10,10%). Dân số có 1.857,8 nghìn người, trong đó nông thôn có 999.000 người (53,77%). Lao động từ 15 tuổi trở lên có 1.462.126 người, trong đó khu vực nông thôn có 780.259 người (53,36%), số người có hoạt động kinh tế khu vực nông thôn 594.015 người (76,13%). Mật độ dân số bình quân 1.223 người/km2, khu vực nông thôn 858 người/km2 (nguồn: Niên giám thống kê năm 2010).

Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TU (khoá 12) của Thành uỷ về đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Hải Phòng thời kỳ 2001-2010, hơn 3 năm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TƯ ngày 5-8-2008 Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng (Khoá 10) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nông nghiệp, nông thôn Hải Phòng đã đạt được thành tựu khá toàn diện, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội thành phố.

Về sản xuất nông nghiệp: Trong giai đoạn 2006 – 2010 thành phố đã tập trung chỉ đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông, lâm, thủy sản, đạt được nhiều kết quả tích cực. Giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp - thuỷ sản tăng bình quân 5,33%/năm. Trong đó: giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 4,55%/năm; giá trị sản xuất thuỷ sản tăng 7,90%/năm; giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng 1,51%/năm. Cơ cấu giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp có bước chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp, giảm dần tỷ trọng trồng trọt. Năm 2006, tỷ trọng trồng trọt 62,70% - chăn nuôi 35,03% - dịch vụ 2,27%; năm 2010, tỷ trọng tương ứng 53,31% - 44,26% - 2,43%. Cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng nhóm ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nhóm ngành nông, lâm, thuỷ sản. Tỷ trọng GDP nhóm ngành nông - lâm - thuỷ sản năm 2010 chiếm trên 10% tổng GDP toàn thành phố.

Các hình thức tổ chức sản xuất và ngành nghề nông thôn đã góp phần thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển. Kinh tế hợp tác được củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động. Kinh tế trang trại phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung. Quy mô trang trại sản xuất đã được mở rộng về số lượng, vốn và nhu cầu sử dụng lao động. Ngành nghề nông thôn có bước phát triển mới, từng bước khẳng định vai trò quan trọng, tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm nông nghiệp, góp phần đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động nông thôn.

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn được tiếp tục xây dựng, tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới.

Hệ thống thuỷ nông được quan tâm đầu tư cải tạo, nâng cấp, đáp ứng nhu cầu tưới, tiêu nước cho sản xuất nông nghiệp; cung cấp trên 50 triệu m3 nước thô cho các nhà máy nước, khu công nghiệp. Hệ thống đê điều được tu bổ thường xuyên bảo đảm khả năng phòng, chống bão cấp 9, triều trung bình. Bình quân mỗi năm thành phố đầu tư trên 100 tỷ đồng cho việc tu bổ, nâng cấp đê, kè, cống và hệ thống tưới tiêu nước bằng nguồn vốn ngân sách trung ương và ngân sách thành phố. Thực hiện cơ khí hoá trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn, tỷ lệ làm đất bằng máy đạt khoảng 80%; 100% khối lượng lúa được ra hạt và xay xát bằng máy; 70% khối lượng hàng hoá, nông sản ở nông thôn đã được vận chuyển bằng cơ giới; 86% diện tích gieo trồng được tưới tiêu chủ động.

Hệ thống giao thông nông thôn được cải tạo, nâng cấp; 100% đường liên huyện được trải nhựa đạt tiêu chuẩn cấp 5 đồng bằng; 90% đường liên xã và đường thôn xóm được trải nhựa hoặc bê tông. 100% số xã dùng điện lưới quốc gia; 100% số xã, thị trấn có điểm bưu điện văn hoá. Các huyện đã cơ bản hoàn thành phổ cập bậc THCS (phổ cập trung học và nghề từ năm 2008); 100% số xã có trung tâm học tập cộng đồng; 98,6% số xã có trường học kiên cố cao tầng; 63,5% số trường tiểu học, 51,1% số trường THCS đạt tiêu chuẩn quốc gia; trang thiết bị dạy học được tăng cường đầu tư theo hướng chuẩn hoá góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; 100% số xã có trạm y tế và bác sĩ, đạt chuẩn quốc gia về y tế cơ sở.

Phong trào xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa được các địa phương và nhân dân triển khai tích cực. 100% số xã có nhà văn hóa; có 100%  số số làng trên địa bàn thành phố phát động xây dựng làng văn hóa; 92% số hộ nông thôn đăng ký xây dựng gia đình văn hóa. Hạ tầng thương mại nông thôn, trụ sở xã và các thiết chế văn hoá cơ sở được thành phố quan tâm đầu tư, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân trên địa bàn.

Về việc làm và đời sống dân cư nông thôn: Thành phố quan tâm thực hiện có chiều sâu các chính sách xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội, tạo việc làm mới cho người lao động; tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn tăng. Đến hết năm 2010 tỷ lệ người dân nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh đạt 91%. Công tác phòng, chống các tệ nạn xã hội được tăng cường. Công tác bảo đảm an sinh xã hội được triển khai tích cực, bằng nhiều giải pháp đồng bộ, thu hút sự tham gia của toàn xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn Hải Phòng tháng 12-2010 theo chuẩn nghèo mới là 8,65%. 100% người nghèo đã có BHYT; công tác khám chữa bệnh cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, bệnh nhân có thẻ BHYT đã được thực hiện đầy đủ ở các tuyến khám chữa bệnh.

Hệ thống chính trị cơ sở nông thôn được củng cố và nâng cao chất lượng; giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở, cơ bản đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay; thực hiện có hiệu quả cơ chế bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của cấp ủy Đảng, quản lý điều hành của chính quyền, sự tham gia phối hợp của Ủy ban MTTQ và các đoàn thể trong phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn nông thôn.

Công tác quốc phòng - an ninh được tăng cường; không để xảy ra diễn biến phức tạp, đột xuất bất ngờ; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nông thôn được giữ vững. Huy động và phát huy tốt sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh, phục vụ có hiệu quả quá trình xây dựng, phát triển và bảo vệ thành phố. Công tác phòng, chống bão lụt, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra được triển khai tích cực, hiệu quả.

 Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nhất là cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch chậm; quy mô sản xuất nhiều loại nông sản còn nhỏ bé, phân tán, thiếu bền vững, sức cạnh tranh kém, thị trường không ổn định, thiếu thông tin dự báo; chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn vẫn chậm, tỷ trọng lao động nông nghiệp còn cao. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn còn nhiều yếu kém; đô thị hoá nông thôn còn tự phát, thiếu quy hoạch; chỉ có một số ít điểm dân cư có quy hoạch, nhưng chất lượng thấp, hạ tầng không đồng bộ, tổ chức quản lý quy hoạch đô thị còn nhiều bất cập, chưa chú trọng giữ gìn bản sắc văn hoá của nông thôn. Đời sống vật chất và tinh thần của dân cư nông thôn còn nhiều khó khăn, khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị ngày càng doãng ra; khu vực nông thôn thu nhập thấp đã làm cho đời sống của một bộ phận dân cư thêm khó khăn hơn. 

Việc thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới:

Thành phố đã triển khai và tổ chức thực hiện nhiều chính sách và các cuộc vận động nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn; trong đó nổi bật là phong trào xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở”, các chương trình vay vốn tín dụng ưu đãi thực hiện kiên cố hóa kênh mương, xây dựng cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản và làng nghề nông thôn; khám chữa bệnh cho người  nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi, chính sách đào tạo nguồn nhân lực …v.v.

 Thành phố đã tập trung triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới:

- Thành lập Ban Chỉ đạo thành phố thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; 100% số huyện (7 đơn vị) thành lập Ban Chỉ đạo cấp huyện, 138 xã (đạt 100% số xã tham gia thực hiện chương trình) thành lập Ban Quản lý cấp xã.

- Đã tổ chức điều tra, đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí trong Bộ Tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; triển khai xây dựng quy hoạch xây dựng nông thôn mới cấp xã trên địa bàn thành phố; lựa chọn 8 xã thực hiện làm điểm của Chương trình, 8 xã ưu tiên năm 2012 để tập trung chỉ đạo; nhiều địa phương đã tổ chức phát động phòng trào thi đua ”Toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới”; một số xã đã vận động nhân dân hiến đất làm đường và đóng góp kinh phí thực hiện chương trình. Thành phố đã bố trí kinh phí trực tiếp cho chương trình, cùng với kinh phí lồng ghép các chương trình, dự án đầu tư khu vực nông thôn trong kế hoạch năm 2011 và năm 2012 với tổng số kinh phí 532 tỷ đồng (kinh phí trực tiếp 112 tỷ đồng; kinh phí lồng ghép 420 tỷ đồng), phân bổ cho các địa phương để thực hiện chương trình.

Về phạm vi thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới thành phố:

Thành phố Hải Phòng hiện có 143 xã thuộc 7 huyện. Trong Chương trình xây dựng nông thôn mới thành phố Hải Phòng giai đoạn 2011 – 2020 có 138 xã nằm trong danh sách xây dựng nông thôn mới, còn lại 5 xã không đưa vào danh sách, với lý do sau:

 - UBND thành phố đang trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch xây dựng khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải, trong đó có 4 xã thuộc huyện Cát Hải nằm trong phạm vi quy hoạch, chưa đưa vào danh sách các xã xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2012 – 2015.

- Xã Tam Cường huyện Vĩnh Bảo đang triển khai thủ tục chuyển thành thị trấn, do đó không đưa vào danh sách xã xây dựng nông thôn mới.

(Theo quy hoạch chung xây dựng thành phố Hải Phòng đến năm 2025, tầm nhìn đến 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1448/QĐ-TTg ngày 16-9-2009, thành phố dự kiến mở rộng thêm 5 quận mới là Bến Rừng, Bắc sông Cấm, Tây Bắc, An Dương, Tràng Cát – Cát Hải; thành phố đã có quyết định phê duyệt quy hoạch khu đô thị Bắc sông Cấm; đồng thời theo Nghị quyết Đại hội 14 Đảng bộ thành phố, thành phố tập trung nguồn lực đẩy mạnh xây dựng phát triển đô thị, hình thành các khu đô thị mới hiện đại ở Bắc sông Cấm, Nam Tràng Cát. Tuy nhiên để bảo đảm mục tiêu và tiến độ công tác xây dựng nông thôn mới của các xã, đồng thời phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội của địa phương, thành phố và quy hoạch phát triển ngành, các xã trong các khu vực trên vẫn nằm trong danh sách các xã xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2012 – 2015).

II. ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NÔNG THÔN HẢI PHÒNG THEO BỘ TIÊU CHÍ QUỐC GIA VỀ NÔNG THÔN MỚI:

 Theo số liệu tổng hợp khảo sát, điều tra tại 138 xã trên địa bàn thành phố và báo cáo của các Sở, ngành, thực trạng nông thôn Hải Phòng cụ thể như sau:

1. Quy hoạch và thực hiện quy hoạch:

- Trước khi triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, toàn thành phố chưa có xã nào hoàn thành nội dung quy hoạch nông thôn mới.

- UBND thành phố chỉ đạo các địa phương hoàn thành phê duyệt quy hoạch nông thôn mới cấp xã trong năm 2012, bảo đảm chất lượng, theo hướng dẫn của Trung ương và thành phố.

Đối chiếu Tiêu chí số 1 (quy hoạch): Đến ngày 8-6-2012 có 96 xã hoàn thành phê duyệt quy hoạch ( chiếm 69,9%).

2. Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội:

Bao gồm các Tiêu chí số 2; 3; 4; 5; 7; 8; 9 trong Bộ Tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.

2.1. Giao thông: Toàn thành phố có 7.269,56 km đường giao thông nông thôn; bao gồm: 1.331,97 km đường trục xã và liên xã, 1.797,02 km đường trục thôn, xóm; 1.817,42 km đường trục ngõ; 2.141,15 km đường trục chính nội đồng. 

Đối chiếu Tiêu chí số 2 (giao thông): Chưa có xã nào hoàn thành.

2.2. Thủy lợi:  Hệ thống thuỷ nông bao gồm 709 trạm bơm điện; 3.823 tuyến kênh chìm dài 4.044 km; 702 tuyến kênh nổi cấp 1 dẫn nước sau trạm bơm dài 2.141,50 km và hàng nghìn tuyến kênh, cống, đập nội đồng.

Trong nhiều năm qua hệ thống thuỷ nông của thành phố thường xuyên được quan tâm đầu tư thông qua Chương trình kiên cố hóa kênh mương trên địa bàn thành phố với tổng kinh phí ngân sách gần 200 tỷ đồng, đã đầu tư cứng hóa được khoảng 700 km kênh (đạt 85%), bảo đảm tưới tiêu chủ động cho trên 90% diện tích canh tác. Tuy nhiên, tỷ lệ kênh mương được kiên cố hoá theo tiêu chuẩn còn thấp, số trạm bơm tưới tiêu đã xuống cấp còn nhiều, nhất là các xã xa khu trung tâm.

Đối chiếu Tiêu chí số 3 (thủy lợi): Có 19 xã hoàn thành (13,7%).

2.3. Hệ thống điện: Hệ thống điện nông thôn đã cơ bản đạt các yêu cầu kỹ thuật của ngành điện; 100% số xã sử dụng điện thường xuyên, an toàn.

Đối chiếu Tiêu chí số 4 (điện): Có 90 xã hoàn thành (65,2%).

2.4. Hệ thống các công trình phục vụ chuẩn hoá giáo dục: Trong các năm qua, bằng nhiều nguồn vốn đầu tư, hệ thống trường, lớp học, trang thiết bị giảng dạy và học tập đã từng bước được cải thiện.

So với yêu cầu giáo dục, đào tạo, hệ thống trường học về cơ bản đáp ứng được yêu cầu. Tuy nhiên, số trường đạt chuẩn quốc gia còn thấp, đặc biệt là đối với các trường mầm non và trường THCS. Chất lượng trường chuẩn còn hạn chế, nguyên nhân chính là thiếu quỹ đất, đầu tư không đồng bộ, mới chỉ quan tâm đến trường và lớp học. 

Đối chiếu Tiêu chí số 5 (trường học): Có 11 xã hoàn thành (7,9%).

2.5. Kết cấu hạ tầng văn hóa: Nhìn chung kết cấu hạ tầng văn hoá còn thiếu cả số lượng và chất lượng theo tiêu chuẩn của Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch. Nguyên nhân chính là do việc quy hoạch đất đai dành cho xây dựng nhà văn hoá còn thiếu, thiết kế xây dựng chưa chuẩn, mỗi địa phương xây dựng một kiểu mẫu, trang thiết bị thiếu, chưa đáp ứng yêu cầu nên đã hạn chế công tác phát triển văn hoá ở cơ sở.

Đối chiếu Tiêu chí số 6 (cơ sở vật chất văn hóa): Có 7 xã hoàn thành (5%).

2.6. Chợ nông thôn: Hầu hết chợ nông thôn được hình thành từ nhiều năm trước. Song chưa được quan tâm đầu tư nâng cấp, cải tạo, do đó chưa đáp ứng nhu cầu trao đổi mua bán của nhân dân, gây mất cảnh quan, ô nhiễm môi trường. Các chợ cóc, chợ dù, các điểm dịch vụ nhỏ tự phát hình thành nhiều, gây khó khăn cho công tác quản lý, đặc biệt nhiều nơi còn tràn ra lòng, lề đường gây mất an toàn giao thông.

 Đối chiếu Tiêu chí số 7 (chợ nông thôn): Có 12 xã hoàn thành (8,7%).

2.7. Thông tin và truyền thông: Cơ sở hạ tầng thông tin và truyền thông đã phủ khắp thành phố, mạng viễn thông và internet được mở rộng về quy mô, tốc độ cao, chất lượng tốt, phủ khắp đến 100% số xã, thôn của thành phố. Số lượng thuê bao điện thoại (nhất là thuê bao di động) và internet tại khu vực nông thôn tăng nhanh, đến năm 2010, bình quân thuê bao điện thoại đạt 60 thuê bao/100 dân, thuê bao internet đạt 6,52 thuê bao/100 dân; 100% số xã có điểm phục vụ bưu chính, viễn thông (điểm bưu điện văn hóa xã).  

Đây là một trong những tiêu chí có số xã trên địa bàn thành phố hoàn thành cao. Tuy nhiên, về nội dung có internet băng thông rộng (xDSL) về đến nông thôn còn nhiều hạn chế.

Đối chiếu Tiêu chí số 8 (bưu điện): Có 81 xã hoàn thành (58,7%).

2.8. Nhà ở dân cư nông thôn: Nhìn chung nhà ở dân cư có sự chuyển biến nhanh về chất lượng do thu nhập và nhu cầu của người dân ngày càng tăng lên. Tuy nhiên, nhà ở phát triển không theo quy hoạch, thiếu thống nhất, tình trạng nhà ống bê tông hoá ở khu vực nông thôn đang diễn ra khá phổ biến làm mất đi kiến trúc truyền thống, cảnh quan đặc trưng khu vực nông thôn. Một số khu vực nhà ở dân cư đã xuống cấp nghiêm trọng, chủ yếu là nhà ở của các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn; sự phát triển giữa các vùng không đồng đều; một số xã vùng sâu, vùng xa nhà ở không bảo đảm tiêu chuẩn diện tích m2/người, xây dựng lâu năm chưa được cải tạo, nâng cấp...

 Đối chiếu Tiêu chí số 9 (nhà ở dân cư): Có 15 xã hoàn thành (10,8%).

3. Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập:

3.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thu nhập bình quân đầu người: Cơ cấu kinh tế nông thôn đang chuyển dịch theo hướng tích cực, cụ thể: nông nghiệp: 41,12%; tiểu thủ công nghiệp, làng nghề: 29,53%; thương mại dịch vụ, du lịch: 29,35%. Năm 2010, thu nhập bình quân của người dân khu vực nông thôn đạt 11,26 triệu đồng/người/năm, (bình quân chung thành phố 31,8 triệu đồng/người/năm).

Đối chiếu Tiêu chí số 10 (thu nhập): Chưa có xã nào hoàn thành.

3.2. Cơ cấu lao động: Tỷ lệ lao động trong độ tuổi đang làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp hiện nay của thành phố Hải Phòng là 58,67%. Theo quy định của Bộ Tiêu chí, tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp phải đạt tỷ lệ dưới 25%.

 Đối chiếu Tiêu chí số 12 (cơ cấu lao động): Có 10 xã hoàn thành (7,2%).

4. Giảm nghèo và an sinh xã hội

-  Hộ nghèo: Theo số liệu thống kê, tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn Hải Phòng tháng 12-2010 theo chuẩn nghèo mới là 8,65%, gấp 1,32 lần tỷ lệ hộ nghèo toàn thành phố (6,55%).

Đối chiếu Tiêu chí số 11 (hộ nghèo): Có 1 xã hoàn thành (0,7%)

5. Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn:

Mặc dù kinh tế khu vực nông thôn đã có bước phát triển, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp và dịch vụ, nhưng còn chậm; các hình thức tổ chức sản xuất còn đơn điệu, chủ yếu là HTX nông nghiệp. Các HTX chuyên canh, dịch vụ chưa nhiều, hoạt động hiệu quả chưa cao; hộ vẫn là hình thức sản xuất phổ biến; thành phố có 293.935 hộ nông nghiệp; có 2.263 trang trại; có 60 HTXNN & DVNN hoạt động có lãi (chiếm 36,7%); 26 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đang hoạt động có hiệu quả theo Luật Hợp tác xã.

 Toàn thành phố có 9 doanh nghiệp trong nước sản xuất thức ăn chăn nuôi, khoảng 60% là thiết bị được chế tạo trong nước; 159.200 m2 chuồng lạnh nuôi gà công nghệ cao; 69.180 m2 chuồng lạnh nuôi lợn công nghệ cao; có 17 cơ sở sản xuất giống thuỷ sản, 100% số cơ sở có điều kiện vệ sinh thú y, sản xuất đạt kết quả; có 7 đơn vị sản xuất thức ăn công nghiệp phục vụ nuôi trồng thuỷ sản, 28 loại thức ăn đã được công bố tiêu chuẩn chất lượng. Hệ thống chợ hải sản hình thành cả trên biển và trong nội địa; hệ thống dịch vụ hậu cần thuỷ sản được tổ chức tốt hơn, phục vụ có hiệu quả cho nuôi trồng và khai thác thuỷ sản.

Đối chiếu Tiêu chí số 13 (hình thức tổ chức sản xuất): Có 89 xã hoàn thành (64,4 %).

6. Phát triển giáo dục – đào tạo ở nông thôn:

Hiện tại thành phố được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và THCS; cơ sở vật chất trường học bảo đảm 100% học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học bậc trung học (phổ thông, bổ túc, dạy nghề); năm học 2009-2010 đội ngũ giáo viên ở khu vực nông thôn có 10.985 người; trong đó: mầm non 3.168 người, tiểu học: 3.856  người, THCS: 3.961 người, trình độ giáo viên đạt chuẩn cao (mầm non 94,9%; tiểu học: 100%; THCS: 99,9%).

Tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo: Công tác đào tạo nghề cho người lao động đã được thành phố quan tâm, hầu hết các huyện đều có các cơ sở đào tạo nghề. Đến năm 2009, tỷ lệ lao động ở nông thôn đã qua đào tạo đạt 29% (không kể các đối tượng tham dự các lớp bồi dưỡng tập huấn ngắn ngày).

Đối chiếu với tiêu chí số 14 (giáo dục): Có 42 xã hoàn thành (30,4%).

7. Phát triển y tế, chăm sóc sức khoẻ cư dân nông thôn:

Các cơ sở y tế trên địa bàn thành phố có tổng số khoảng 5.800 giường bệnh (bệnh viện công lập ngành y tế: 5.065 giường; bệnh viện tư nhân ngành y tế: 125 giường; bệnh viện ngoài ngành (Bưu điện, Quân đội, Công an, Hải quân…) khoảng 600 giường; nhân lực ngành y tế có 7.610 người, trong đó có 1.469 bác sỹ (đại học và trên đại học), dược sĩ từ trung học trở lên là 270 người. Khoảng 80% số xã có bác sĩ làm việc, 20% số xã có bác sĩ luân chuyển từ bệnh viện huyện về làm việc 2-3 ngày/tuần;  70% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế theo tiêu chí cũ (giai đoạn 2001 – 2010), 30% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế theo Bộ Tiêu chí mới (giai đoạn 2011 – 2020) do yêu cầu, Bộ Tiêu chí đòi hỏi cao hơn cả về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị trạm xá và bác sĩ.

Đối chiếu Tiêu chí số 15 (y tế): Có 43 xã hoàn thành (30%).

8. Xây dựng đời sống văn hoá, thông tin và truyền thông nông thôn:

Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia xây dựng nếp sống văn minh được phổ biến sâu rộng dưới nhiều hình thức. Các di tích lịch sử, văn hoá từng bước được đầu tư trùng tu, tôn tạo từ nhiều nguồn vốn. Các hoạt động văn hoá thể thao quần chúng, các lễ hội truyền thống được bảo tồn và phát triển. Quy định theo tiêu chí yêu cầu trong xã có trên 70% số thôn được công nhận đạt tiêu chuẩn làng văn hóa theo quy định của Bộ VH-TT-DL. Phần lớn các xã đã hoàn thành tiêu chí.

Đối chiếu Tiêu chí số 16 (văn hóa): Có 89 xã hoàn thành (65%)

9. Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn:

Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2006 - 2010 xây dựng 101 hệ thống cấp nước tập trung; cấp vật tư hỗ trợ nhân dân xây dựng 5.094 bể nước mưa, và hàng chục nghìn nhà tiêu hợp vệ sinh và hàng nghìn chuồng trại chăn nuôi. Đến hết năm 2010 tỷ lệ các hộ dân nông thôn được dùng nước sạch đạt 91%; trong đó 42% được dùng nước sạch hợp vệ sinh đạt Tiêu chuẩn QCVN02:2009/BYT của Bộ Y tế; 68% số hộ ở nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh đạt tiêu chuẩn 08/2005/QĐ-BYT, có 47,4% chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh; làng nghề có hệ thống xử lý ô nhiễm đạt tỷ lệ 15%.

Công tác quản lý, thu gom và xử lý chất thải ở khu vực nông thôn đã được chú trọng, đa số chuồng trại chăn nuôi tập trung được xử lý chất thải bằng nhiều hình thức, nhiều xã thành lập tổ thu gom rác thải. Việc xử lý rác thải chủ yếu là chôn, lấp đơn giản hoặc tập kết ra các khu vực đất công cộng ngay tại địa phương, chưa theo kịp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội và gia tăng dân số hiện nay.

Đối chiếu Tiêu chí số 17 (môi trường): Có 9 xã hoàn thành (6,5%).

10. Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị-xã hội trên địa bàn

Hệ thống chính trị ở nông thôn thường xuyên được củng cố, kiện toàn; năm 2010, hầu hết tổ chức Đảng đạt danh hiệu tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh. Tất cả các xã đều có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị theo quy định. Quy chế dân chủ cơ sở được thực hiện rộng rãi. Các tổ chức chính trị - xã hội tại các xã đang từng bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động; phát động thực hiện các phong trào quần chúng, trong công tác giảm nghèo, giải quyết việc làm cho nhân dân. Đối chiếu quy định, chỉ còn nội dung “Cán bộ xã đạt chuẩn” là còn nhiều xã chưa đạt: 8,4% cán bộ, công chức cấp xã chưa được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, ở các chức danh: trưởng công an xã: 18,4%; trưởng quân sự: 16,7%; văn phòng – thống kê: 5,2%; tài chính – kế toán: 1,7%; tư pháp – hộ tịch: 10,3%; địa chính – xây dựng: 6,3%; văn hóa – xã hội: 10,7%..;

Đối chiếu Tiêu chí số 18 ( hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh): Có 95 xã hoàn thành (68,8%).

Chuyển dịch cơ cấu sản xuất ở nông thôn được thực hiện với những mô hình đạt giá trị kinh tế cao.
Chuyển dịch cơ cấu sản xuất ở nông thôn được thực hiện với những mô hình đạt giá trị kinh tế cao.

11. Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn:

An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở nông thôn được giữ vững, các vụ việc khiếu kiện kéo dài đã giảm; 100% số xã có lực lượng dân quân tự vệ và lực lượng dự bị, động viên hoạt động tốt.

Tình trạng phạm tội và các tệ nạn xã hội cơ bản được hạn chế, an ninh chính trị trên địa bàn có nhiều chuyển biến tích cực; tình hình dân tộc, tôn giáo, văn hoá tư tưởng được giữ vững, ổn định. Công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo được quan tâm; các vụ việc phức tạp, tồn đọng kéo dài được giải quyết cơ bản.

Đối chiếu Tiêu chí số 19 (an ninh, trật tự xã hội): Có 131 xã hoàn thành (94,9%).

 Tổng hợp chung:

- So với Bộ Tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, có 1 tiêu chí đã cơ bản đạt yêu cầu là tiêu chí về an ninh trật tự xã hội được giữ vững; 3 tiêu chí đạt 60%-80% yêu cầu (hệ thống điện nông thôn, văn hoá và hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh); 15 tiêu chí đạt dưới 50% yêu cầu (quy hoạch; giao thông; thuỷ lợi; y tế; trường học; cơ sở vật chất văn hoá; chợ nông thôn; bưu điện; nhà ở dân cư nông thôn; các hình thức tổ chức sản xuất; giáo dục; thu nhập của người dân nông thôn; tỷ lệ hộ nghèo; tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp; môi trường nông thôn).

- Hiện nay, Hải Phòng chưa có xã nào đạt tiêu chuẩn nông thôn mới theo 19 tiêu chí, cụ thể:

+ 13 xã đạt 10 -12 tiêu chí;

+ 92 xã đạt 5 – 9 tiêu chí;

+ 33 xã đạt dưới 5 tiêu chí.

III. ĐÁNH GIÁ CHUNG:

1. Kết quả đạt được:

- Kinh tế - xã hội khu vực nông thôn đã có những bước phát triển mới. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ; cơ cấu lao động trong nông thôn đã có sự chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng lao động nông nghiệp; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở khu vực nông thôn phát triển mạnh.

- Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội nông thôn được tăng cường, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn, như hệ thống giao thông, điện, kênh mương, nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế, chợ, các thiết chế văn hóa… đã có tác động tích cực đến phát triển sản xuất, tạo việc làm và xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn.

- Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp phát triển; năng suất, chất lượng đạt và vượt hầu hết chỉ tiêu kế hoạch; xây dựng được nhiều mô hình chuyển dịch cơ cấu sản xuất đạt giá trị kinh tế cao. 

- Các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn tiếp tục được đổi mới, phát triển đa dạng, đã huy động và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực ở nông thôn. Kinh tế hộ tiếp tục phát triển theo hướng mở rộng quy mô sản xuất, góp phần chủ yếu tạo tăng trưởng nông nghiệp, tăng thu nhập cho nông dân. Xuất hiện ngày càng nhiều trang trại chăn nuôi, thuỷ sản và kinh doanh tổng hợp đạt hiệu quả kinh tế cao. Tổ hợp tác bước đầu hình thành và phát triển, hoạt động đa dạng, phù hợp với trình độ của nông dân ở nhiều vùng.

- Đời sống vật chất, tinh thần của cư dân các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo về các mặt văn hoá, thông tin, phát thanh, truyền hình. Công tác vệ sinh môi trường nông thôn bước đầu đã được các cấp, các ngành, chính quyền và nhân dân quan tâm thực hiện.

- Hệ thống chính trị ở nông thôn được tăng cường; dân chủ cơ sở được phát huy; tổ chức Đảng và các đoàn thể quần chúng ở cơ sở được tăng cường và kiện toàn. Đội ngũ cán bộ xã được tăng cường cả về số lượng và chất lượng; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở. Việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ngày càng đi vào nền nếp, góp phần quan trọng tạo nên sự đồng thuận ở nông thôn. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; nhân dân tin tưởng vào công cuộc đổi mới.

2. Những hạn chế, yếu kém:

- Quy mô sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, chậm hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung quy mô lớn; cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp còn hạn chế; chất lượng nông sản thấp, thiếu sức cạnh tranh, sản phẩm nông nghiệp chủ yếu vẫn là tự cung, tự cấp; chưa phát triển sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp; ứng dụng khoa học công nghệ mới trong lĩnh vực thủy sản còn rất hạn chế; hạ tầng nuôi trồng, chế biến thủy sản còn manh mún; khai thác thủy sản chủ yếu là gần bờ; dịch vụ hậu cần thuỷ sản còn hạn chế. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng thu hẹp do chuyển đổi mục đích sử dụng sang làm các khu công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng. Đời sống của một bộ phận nông dân còn gặp nhiều khó khăn.

- Phát triển nông thôn còn thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội thiếu đồng bộ, năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai thấp. Đô thị hoá nông thôn còn tự phát, nhiều xã chưa có quy hoạch tổng thể; cảnh quan nông thôn bị phá vỡ và nhiều nét văn hóa bị pha tạp, mai một.  

- Trung ương, thành phố, huyện đã có các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất và văn hóa cho nông nghiệp, nông thôn; song do nguồn lực đầu tư trong nhân dân hạn chế; đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 40 - 60% yêu cầu thực tế; đầu tư còn dàn trải, nhiều công trình chậm tiến độ, hiệu quả chưa cao, chất lượng kết cấu hạ tầng khu vực nông thôn còn kém xa so với nội thành.

- Hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn còn chậm đổi mới; kinh tế trang trại phát triển chậm và chiếm tỷ lệ nhỏ; mức độ trang bị cơ giới và áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất còn hạn chế. Doanh nghiệp nông thôn, kinh tế hợp tác phát triển rất chậm, chưa thực hiện hiệu quả vai trò hỗ trợ hoạt động sản xuất của nông hộ.

- Môi trường khu vực nông thôn hiện nay nhiều nơi đang bị ô nhiễm đến mức báo động; đặc biệt tại các cơ sở sản xuất chế biến nông, lâm, thủy sản, sản xuất tiểu thủ công nghiệp và làng nghề. 

- Hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở khu vực nông thôn tuy đã được tăng cường, nhưng chất lượng hoạt động còn hạn chế; thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, an ninh nông thôn có nơi chưa tốt, đơn thư khiếu kiện chưa được quan tâm giải quyết kịp thời.

3. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém:

*  Nguyên nhân khách quan:

- Do điểm xuất phátcủanền kinh tế thấp; tốc độ đô thị hoá và tăng trưởng kinh tế cao, thu hút đầu tư lớn đã nảy sinh những mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Nhu cầu đầu tư cho phát triển nôngnghiệp,nông thônlớn, song khả năng đáp ứngcủacác nguồn lực còn thấp.

- Tư duy về kinh tế thị trường của đại bộ phận nông dân còn nhiều hạn chế. Khu vực nông nghiệp, nông thôn chịu nhiều tác động của thiên tai, dịch bệnh, rủi ro cao, cơ chế chính sách về phát triển nông nghiệp, nông thôn chưa hoàn thiện, chưa tạo được lộ trình và quy tắc trong quá trình điều hành, quản lý và phát triển.

*  Nguyên nhân chủ quan:

- Nhận thức của một bộ phận không nhỏ cán bộ cơ sở, nông dân về quan điểm, phương thức thực hiện chương trình còn hạn chế, có tâm lý thụ động, trông chờ vào hỗ trợ từ ngân sách cấp trên.

- Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện củamột bộ phận cán bộ, nhất là ở cơ sở nhiều mặt chưa đáp ứng yêu cầu; khả năng tham mưu, đề xuất, cụ thể hoá chủ trương, chính sáchcủaĐảng, Nhà nước để áp dụng vào thành phốcòn yếu. Chất lượng cán bộ quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ, doanh nhân nông thôn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; thiếu đội ngũ cán bộ giỏi, tâm huyết về xây dựng nông thôn mới làm nòng cốt chỉ đạo thực hiện ở cơ sở.

- Đầu tư cho nông nghiệp còn thấp. Tổng kinh phí hỗ trợ trong 3 năm (2008 – 2010) là 353.750 triệu đồng (bình quân 117.916 triệu đồng/năm), đạt 69,4% so với yêu cầu.

- Xây dựng nông thôn thời gian qua thiếu định hướng, chưa rõ trọng tâm; chưa có quy hoạch tổng thể, chưa có được hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật làm chuẩn cho xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế – xã hội nông thôn. Hệ thống cơ chế, chính sáchvề phát triển nông thônthiếu đồng bộ và còn nhiều vướng mắc. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức, dạy nghề chonôngdân chưa được coi trọng. Phát triển các lĩnh vực y tế, văn hoá, giáo dục ởnông thôn,xây dựngthiết chế văn hoá làng, xã, bảo tồn và phát triển văn hoá truyền thống chưa được quan tâm đúng mức.

- Cơ chế, chính sách khuyến khích hỗ trợ phát triển sản xuất, hướng dẫn thực hiện của các ngành ban hành chậm, mức đầu tư hỗ trợ từ ngân sách thấp, phối hợp thực hiện giữa các cấp, các ngành chưa tích cực và chặt chẽ.

- Cơ sở hạ tầng trong vùng sản xuất tập trung đầu tư chưa đồng bộ (một số hạng mục chưa được đầu tư như: đường sản xuất, kênh mương nội đồng, cống điều tiết trong vùng chuyển đổi). Do vậy, kết quả xây dựng chuyển đổi vùng sản xuất tập trung đạt thấp so với kế hoạch phê duyệt.

- Chưa xây dựng được cơ chế mới hỗ trợ đầu tư từ nguồn vốn ngân sách (trung ương, thành phố, huyện, xã) và cơ chế huy động vốn đầu tư đặc thù của Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố.      

Phần thứ hai

MỤC TIÊU NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2012 -2015, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020

I. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ:

1. Mục tiêu chung:

Xây dựng nông thôn mới thành phố Hải Phòng có kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn không ngừng được nâng cao; có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức sản xuất phù hợp, gắn phát triển nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn liền phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; phát triển sản xuất theo hướng sản xuất hàng hoá năng suất, chất lượng, hiệu quả; có sức cạnh tranh và phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thành phố và xuất khẩu. Xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ. An ninh trật tự được giữ vững, hệ thống chính trị ở nông được tăng cường, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

2. Mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể:

2.1. Giai đoạn 2012 -2015:

 Phấn đấu xây dựng 30% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới.

- Năm 2012 hoàn thành quy hoạch và Đề án nông thôn mới cho 100% số xã.

- Hạ tầng kinh tế xã hội:

+ Có 40% số xã đạt chuẩn về hệ thống đường giao thông đến trụ sở UBND xã và hệ thống giao thông trên địa bàn xã; giao thông nội đồng bảo đảm yêu cầu cơ giới hóa nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu Bộ Tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.

+ 50% hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn xã đạt chuẩn (80% hệ thống kênh cấp 3 trở lên được kiên cố hóa);

+ 100% số xã đạt chuẩn về hệ thống điện.

+ 100% số xã đạt chuẩn giáo dục tiểu học, hoàn thành 50% hệ thống các công trình phục vụ chuẩn hóa giáo dục trên địa bàn xã;

+ 50% số xã hoàn thiện hệ thống công trình phục vụ nhu cầu hoạt động văn hóa, thể thao trên địa bàn xã; 40%  số thôn, xã có nhà văn hóa đạt chuẩn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; chợ nông thôn được xây dựng theo quy hoạch và đạt chuẩn của Bộ Xây dựng.

+ Hoàn thiện hệ thống công trình phục vụ việc chuẩn hóa y tế trên địa bàn xã; 70% số cơ sở y tế xã đạt chuẩn quốc gia;

+ 70% số xã có trụ sở và hệ thống công trình phụ trợ đạt chuẩn;

+ 100% số xã đạt tiêu chuẩn ngành Thông tin và Truyền thông về xây dựng nông thôn mới;

- Kinh tế và tổ chức sản xuất:

+ Kinh tế khu vực nông thôn đóng góp ngày càng nhiều cho thành phố, đến năm 2015 có giá trị sản xuất nông – lâm – thủy sản tăng 5,5-6%/năm; tốc độ tăng bình quân GDP nông – lâm – thủy sản 4,5%/năm;

+ Nâng cao thu nhập cư dân nông thôn gấp 1,5-2 lần so với hiện nay; giảm tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn (theo chuẩn mới) dưới 3% (theo quy định của Bộ Tiêu chí);

+ Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp đạt dưới 25% (theo quy định của Bộ Tiêu chí);

+ 80% số xã đã có nghề truyền thống được khôi phục và phát triển; 80% số xã có hợp tác xã hoặc tổ hợp tác hoạt động có hiệu quả.

- Văn hóa – xã hội – môi trường:

+ 50% số xã đạt tiêu chí về giáo dục; tỷ lệ huy động trẻ em 5 tuổi đến lớp mẫu giáo đạt 100%, tỷ lệ học sinh vào lớp 1, lớp 6 đúng độ tuổi đạt 100%.

+ 50% số xã có nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch, 100% số trung tâm xã và cụm dân cư có hệ thống thoát nước thải hoàn chỉnh. 30% số xã có trung tâm văn hóa- thể thao xã đạt chuẩn, trên 95 % số hộ nông thôn được dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, 80% số cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn môi trường.

+ Đào tạo nghề cho 125.000 lao động nông thôn ở 3 cấp trình độ (cao đẳng, trung cấp và sơ cấp), cụ thể: 70.000 lao động nông thôn được thụ hưởng theo chính sách từ nguồn kinh phí Chương trình mục tiêu của trung ương và địa phương; 55.000 lao động nông thôn được đào tạo theo hình thức xã hội hoá.

- Hệ thống chính trị:

+ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã: 100% số cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở có trình độ từ trung cấp trở lên, trong đó: 60% số chủ tịch, phó chủ tịch UBND xã có trình độ đại học; 100% số công chức xã có trình độ từ trung cấp trở lên, trong đó 60% có trình độ đại học, cao đẳng; 70% số công chức có trình độ chuyên môn phù hợp với chức danh đảm nhiệm;

+ Hằng năm có 75% số tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh;  100% số cán bộ chủ chốt chính quyền có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên; 50% số công chức có trình độ trung cấp lý luận chính trị; 100% số xã đạt chuẩn về giữ vững an ninh trật tự xã hội nông thôn.

2.2. Giai đoạn 2016 – 2020:

 Phấn đấu xây dựng 75% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới.

  - Hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cho các xã theo chuẩn nông thôn mới: có 80% số xã đạt chuẩn về hệ thống đường giao thông địa bàn xã; có 80%  số thôn, xã có các công trình phục vụ về nhu cầu hoạt động văn hóa – thể thao đạt chuẩn; 90% số xã có trụ sở và hệ thống công trình phụ trợ đạt chuẩn; 90% hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn xã đạt chuẩn (cơ bản cứng hóa hệ thống kênh mương nội đồng theo quy hoạch); 90% số hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn Bộ Xây dựng.

- 70% số xã đạt chuẩn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao, tăng cường công tác khuyến nông, đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp; cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch. Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm ”mỗi làng một sản phẩm”, phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương, gắn với phát triển thị trường tiêu thụ.

- 90% số xã đạt chuẩn về phát triển giáo dục – đào tạo ở nông thôn; 90% số xã đạt chuẩn về phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn; 80% số xã có nhà văn hóa xã, thôn đạt chuẩn; 95% số người dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh; trong đó 70% được sử dụng nước sạch theo tiêu chuẩn quy định của Bộ Y tế. Các trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng được dùng nước hợp vệ sinh; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã.

- Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn với mục tiêu 70% số xã đạt chuẩn nội dung chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập của người dân nông thôn; 75% số xã đạt chuẩn về đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn.

III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:

1. Tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn:

- Tăng cường tổ chức các hoạt động tuyên truyền sâu rộng về nội dung Nghị quyết số 26-NQ/TU ngày 5-8-2008 Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng (khóa 10) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; các chương trình của Chính phủ về xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo và các chính sách hỗ trợ của Nhà nước để người dân hiểu, chủ động tham gia chương trình.

- Đẩy mạnh các hình thức thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm cung cấp đầy đủ thông tin để toàn xã hội hiểu rõ mục đích, nội dung, tư tưởng chỉ đạo, cơ chế chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng nông thôn mới, đặc biệt là vai trò chủ thể của người dân nông thôn trong việc thực hiện chương trình. Thường xuyên cập nhật, đưa tin về các mô hình tốt, các điển hình tiên tiến, sáng kiến, kinh nghiệm hay về xây dựng nông thôn mới để phổ biến và nhân rộng.

2. Tăng cường hỗ trợ, khuyến khích, đẩy mạnh phát triển sản xuất để nâng cao năng suất, hiệu quả, tăng thu nhập, cải thiện đời sống người dân nông thôn:

Tăng cường chỉ đạo đẩy mạnh sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung; đẩy mạnh phát triển đồng bộ các dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp; ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, thực hiện cơ giới hoá nông nghiệp các khâu canh tác, thu hoạch, bảo quản, chế biến nông sản; tăng cường đầu tư phát triển lĩnh vực bảo quản, chế biến nông sản, tạo sản phẩm hàng hoá đặc trưng, phục vụ nội địa và xuất khẩu; tiếp tục thực hiện hỗ trợ phát triển sản xuất theo các cơ chế chính sách đã ban hành, đồng thời tiếp tục nghiên cứu bổ sung các cơ chế chính sách hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, tạo điều kiện huy động nhân dân đóng góp công sức, tiền của xây dựng nông thôn mới tại địa phương.

3. Ứng dụng khoa học – công nghệ:

Đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến vào sản xuất, trọng tâm là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin. Có chính sách khuyến khích các nhà khoa học trong hợp tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Từng bước thực hiện cơ khí hoá và ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp.

Vận động và hướng dẫn người dân nông thôn mạnh dạn chuyển dịch cơ cấu sản xuất, liên doanh, liên kết mở rộng sản xuất, kinh doanh; tích cực, chủ động ứng dụng khoa học, công nghệ để đạt năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Triển khai xây dựng chương trình giống cây trồng, vật nuôi; đầu tư xây dựng các mô hình bảo quản, chế biến sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp và phát triển ngành nghề, dịch vụ nông thôn; tập trung hỗ trợ người dân nông thôn tại các địa bàn khó khăn.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để cung cấp thông tin khoa học kỹ thuật, thông tin thị trường nông sản, quảng bá sản phẩm, hỗ trợ tiêu thụ hàng hóa của người dân; xây dựng cơ sở dữ liệu về chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới thành phố giai đoạn 2012 – 2015, định hướng đến năm 2020. Triển khai thực hiện Quyết định số 27/QĐ-TTg ngày 5-1-2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015.

4. Đào tạo nhân lực quản lý và tổ chức thực hiện chương trình:

- Tổ chức đào tạo, tập huấn cho cán bộ làm công tác xây dựng nông thôn mới từ thành phố đến cơ sở. Chú trọng đào tạo kiến thức về quản lý nhà nước, quản lý đầu tư, đất đai, văn hoá ...và công tác chỉ đạo tổ chức thực hiện các nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; kỹ năng lập kế hoạch; theo dõi, giám sát thực thi các dự án; kỹ năng quản lý, bảo dưỡng các cơ sở hạ tầng và huấn luyện phương pháp vận động quần chúng tham gia vào xây dựng nông thôn mới.

- Triển khai thực hiện Quyết định số 1003/QĐ-BNN-KTHT ngày 18-5-2011 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc phê duyệt chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xây dựng nông thôn mới thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020. Theo đó, mục tiêu của chương trình là nâng cao kiến thức, năng lực quản lý, điều hành và thực thi của các cán bộ xây dựng nông thôn mới ở các cấp nhằm triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới.

5. Xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện chương trình:

 - Chương trình xây dựng nông thôn mới do người dân là chủ thể, sử dụng nhiều nguồn lực, trong đó có nguồn lực huy động từ các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, vì vậy cần ban hành cơ chế chính sách đặc thù trong quá trình thực hiện để huy động tối đa nội lực trong cộng đồng dân cư; có cơ chế ưu đãi, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, tạo vốn để thực hiện chương trình. Đổi mới cơ chế hỗ trợ, quản lý, thủ tục hành chính, trình tự, thủ tục, lập – thẩm định – phê duyệt, thanh quyết toán các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới theo hướng đơn giản, hiệu quả, phù hợp điều kiện thực tế, dễ thực hiện khi phân cấp cho cơ sở, dễ phát huy nội lực từ cộng đồng và lồng ghép với các chương trình, dự án khác, trên cơ sở các quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu và Luật Đầu tư và các quy định áp dụng riêng cho Chương trình xây dựng nông thôn mới theo Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4-6-2010 và Quyết định số 695/QĐ-TTg ngày 8-6-2012 của Thủ tướng Chính phủ; Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13-4-2011 của liên Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính. Tạo điều kiện tối đa cho nông dân, cộng đồng dân cư trực tiếp quản lý đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng để nâng cao vai trò chủ thể của nông dân, hạn chế thất thoát, tiết kiệm đầu tư.

- Đối với các cơ chế chính sách về hỗ trợ đầu tư đã được thành phố ban hành, được áp dụng vào thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới. Nghiên cứu cơ chế để triển khai mạnh mẽ việc xây dựng đường bê tông thay thế đường nhựa theo cơ chế nhà nước và nhân dân cùng làm; đồng thời nghiên cứu tiếp tục ban hành các cơ chế chính sách hỗ trợ thực hiện chương trình từ nguồn vốn ngân sách để khuyến khích, tạo điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế tham gia phát triển sản xuất, tạo việc làm cho lao động nông thôn, trên cơ sở bảo đảm  nguyên tắc tổng mức hỗ trợ từ ngân sách không vượt quá 40% tổng kinh phí thực hiện Chương trình.

 6. Huy động vốn thực hiện Chương trình:

- Tổng nhu cầu vốn đầu tư cho chương trình, dự kiến là 14.810.631 triệu đồng gồm các nội dung sau:

+ Công tác quy hoạch và xây dựng đề án: 24.840 triệu đồng (0,16 %)

+ Đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội: 8.101.491 triệu đồng (54,67%)

+ Phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất: 4.500.000 triệu đồng (30,4%)

+ Phát triển văn hóa - xã hội - môi trường: 2.130.300 triệu đồng (14,37 %)

+ Đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức: 27.600 triệu đồng (0,18%)

+ Kinh phí chỉ đạo, tuyên truyền, tập huấn cấp thành phố: 14.400 triệu (0,12%)

+ Kinh phí hoạt động chỉ đạo, tuyên truyền ở các huyện: 12.000 triệu đồng (0,1%)

- Cơ cấu nguồn kinh phí thực hiện:

+ Vốn ngân sách: 5.971.556 triệu đồng (40,32%):

+ Vốn tín dụng: 4.419.537  triệu đồng (29,84%);

+ Vốn đầu tư của doanh nghiệp: 2.946.358 triệu đồng (19,89%);

+ Vốn huy động từ cộng đồng dân cư: 1.473.179 triệu đồng (9,95%);

- Phân kỳ đầu tư:

+ Giai đoạn 2012 – 2015: 5.938.496. triệu đồng, chiếm tỷ lệ 40%, trong đó:

·Vốn ngân sách: 2.375.398. triệu đồng;

·Vốn tín dụng: 1.781.549. triệu đồng;

·Vốn đầu tư của doanh nghiệp: 1.187.699. triệu đồng;

·Vốn huy động từ cộng đồng dân cư: 593.850. triệu đồng;

+ Giai đoạn 2016 – 2020: 8.872.134. triệu đồng, chiếm tỷ lệ 60%, trong đó:

· Vốn ngân sách: 3.548.854. triệu đồng;

· Vốn tín dụng: 2.661.640. triệu đồng;

·Vốn đầu tư của doanh nghiệp: 1.774.427. triệu đồng;

·Vốn huy động từ cộng đồng dân cư: 887.213. triệu đồng;

Giải pháp thực hiện:

Sử dụng tổng hợp các nguồn vốn để phát triển hạ tầng kinh tế, văn hoá xã hội nông thôn, phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất.

- Huy động, bố trí tối đa nguồn vốn của ngân sách Nhà nước (trung ương, thành phố, huyện, xã) để tổ chức triển khai Đề án theo quy định tại Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4-6-2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới; nguyên tắc hỗ trợ thực hiện theo Quyết định số 695/QĐ-TTg ngày 8-6-2012 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

Trước mắt, đối với các xã trong danh sách hoàn thành Chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2012-2015 được sử dụng 100% tiền sử dụng đất và tiền thuê đất trên địa bàn xã (sau khi đã trừ chi phí giải phóng mặt bằng, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và trích lập quỹ phát triển đất) để thực hiện.

- Thực hiện lồng ghép các nguồn vốn của các chương trình mục tiêu quốc gia; các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn để xây dựng nông thôn mới. Cụ thể: Chương trình giảm nghèo; Chương trình quốc gia về việc làm; Chương trình nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn; Chương trình phòng, chống tội phạm; Chương trình dân số và KHHGĐ; Chương trình phòng, chống một số bệnh xã hội, bệnh nguy hiểm và HIV/AIDS; Chương trình thích ứng biến đổi khí hậu; Chương trình về văn hóa; Chương trình giáo dục, đào tạo; Chương trình 135; hỗ trợ đầu tư trụ sở xã; hỗ trợ khám chữa bệnh cho người nghèo, cho trẻ em dưới 6 tuổi…; đầu tư kiên cố hóa trường, lớp học; kiên cố hóa kênh mương; phát triển đường giao thông nông thôn; phát triển cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản, làng nghề…;

 - Vốn tín dụng:

+ Vốn tín dụng đầu tư nhà nước được trung ương phân bổ theo chương trình kiên cố hoá kênh mương, phát triển đường giao thông nông thôn, hạ tầng nuôi trồng thủy sản, cơ sở làng nghề ở nông thôn và theo danh mục quy định tại Nghị định số 106/2008/NĐ-CP ngày 19-9-2008 của Thủ tướng Chính phủ;

+ Vốn tín dụng thương mại cho người dân và doanh nghiệp vay theo quy định tại Nghị định số 41/2010/NĐ - CP ngày 12-4-2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn; 

- Vốn đầu tư của doanh nghiệp: Huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; được vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, được ngân sách Nhà nước hỗ trợ sau đầu tư và được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật. Huy động hỗ trợ đầu tư từ các doanh nghiệp trên địa bàn xã cả bằng tiền và hiện vật là sản phẩm của doanh nghiệp (xi măng, sắt thép, cát, đá...); có cơ chế để thu hút các tổ chức quốc tế, bà con kiều bào tham gia đóng góp xây dựng quê hương.

- Huy động đóng góp của dân: Đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện của nhân dân trong xã cho từng dự án cụ thể, do HĐND xã thông qua. Hình thức đóng góp của người dân có thể là tiền mặt, ngày công lao động, diện tích đất phục vụ các công trình đầu tư, nguyên vật liệu xây dựng công trình.

Ở những địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa, các xã hải đảo khi triển khai dự án cụ thể, UBND thành phố sẽ xem xét, cân đối để tăng vốn ngân sách nhà nước đầu tư, giảm tỷ lệ vốn đóng góp của người dân.

- Huy động các khoản viện trợ không hoàn lại của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho các dự án đầu tư.

- Huy động các nguồn tài chính hợp pháp khác.

7. Tăng cường công tác chỉ đạo, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội để thực hiện Chương trình:

- Thành lập và kiện toàn bộ máy tổ chức triển khai thực hiện chương trình các cấp bảo đảm đủ về nhân lực, có đủ năng lực trình độ, trang thiết bị và kinh phí để giúp việc có hiệu quả cho thành phố triển khai thực hiện chương trình.

- Phân công nhiệm vụ cụ thể và tăng cường trách nhiệm của các cấp, các ngành, các đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội đối với việc tổ chức thực hiện chương trình; chú trọng chất lượng công tác rà soát, đánh giá hiện trạng xây dựng nông thôn mới để kịp thời điều chỉnh, bổ sung giải pháp chỉ đạo cho phù hợp. Các Sở, Ban, ngành, các tổ chức chính trị xã hội có trách nhiệm tổ chức thực hiện tốt những nội dung tiêu chí theo sự phân công thuộc lĩnh vực do đơn vị quản lý; bố trí cán bộ chuyên trách theo dõi, tổng hợp thực hiện chương trình ở các cấp, các ngành; bố trí cán bộ có năng lực, kinh nghiệm thực hiện chức năng giúp việc Ban Chỉ đạo các cấp trong việc triển khai, điều hành chương trình.

- Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, chính quyền cấp huyện, cấp xã trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chương trình, phát huy vai trò làm chủ của cộng đồng dân cư thông qua việc tham gia ý kiến từ các khâu quy hoạch, xây dựng và thực hiện Đề án nông thôn mới cấp xã; việc tham gia trực tiếp của cộng đồng dân cư về quản lý xây dựng, giám sát, thi công đối với các hạng mục công trình liên quan.

- Tập trung công tác chỉ đạo và đầu tư đối với 8 xã thực hiện điểm xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố với mục tiêu hoàn thành chương trình vào năm 2013. Sớm tổng kết các mô hình điểm nhằm rút kinh nghiệm trong việc chỉ đạo và triển khai thực hiện; khắc phục những hạn chế yếu kém; nhân rộng áp dụng những cách làm sáng tạo, hiệu quả đối với toàn bộ các xã trên địa bàn thành phố bảo đảm  thực hiện đúng tiến độ, mục tiêu đề ra.

- Triển khai thực hiện Quyết định số 1620/QĐ-TTg ngày 20/9/2011 của  Thủ tướng Chính phủ về thực hiện phong trào thi đua "Toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới”; phát động phong trào thi đua trên toàn thành phố, biểu dương những điển hình tiên tiến, những cách làm sáng tạo, những địa phương đi đầu...nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong tuyên truyền, vận động và trực tiếp tham gia thực hiện thắng lợi phong trào, tạo khí thế thi đua sôi nổi để phấn đấu hoàn thành mục tiêu của chương trình. Sơ kết, tổng kết kịp thời, khen thưởng các địa phương, tổ chức, cá nhân có nhiều thành tích; phê bình, kiểm điểm các địa phương, cơ quan, cán bộ, công chức thực hiện kém hiệu quả.

8. Một số nhiệm vụ đột phá thực hiện chương trình năm 2012 và 2013.

- Tập trung quy hoạch và phát triển các vùng sản xuất tập trung, các cánh đồng mẫu lớn; xây dựng hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất, trọng tâm là hệ thống đường giao thông và hệ thống thuỷ lợi trong vùng sản xuất.

- Ngay trong năm 2012, đối với các xã đã quy hoạch vùng sản xuất tập trung, các cánh đồng mẫu lớn, thành phố hỗ trợ xây dựng tuyến đường nội đồng phục vụ sản xuất trực tiếp bằng xi măng; vận động các doanh nghiệp sản xuất xi măng, sắt thép, cát đá... bán sản phẩm theo giá và cơ chế ưu đãi; các địa phương vận động các doanh nghiệp và nhân dân hỗ trợ, đóng góp kinh phí mua các vật liệu khác, hiến đất, huy động nhân công để thực hiện.

- Thực hiện cơ giới hoá một số khâu canh tác, làm đất, tưới tiêu, gieo trồng, thu hoạch, bảo quản, chế biến nông sản.

- Tăng cường trồng cây xanh ven đường giao thông nông thôn, các hệ thống kênh mương thuỷ lợi lớn;

- Tích cực chỉ đạo thực hiện thu gom, xử lý rác thải ở nông thôn, nhất là việc xử lý chất thải trong chăn nuôi bằng hầm bioga.

- Xây dựng các thiết chế văn hoá trong cộng đồng dân cư nông thôn.

Phần thứ ba

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Kiện toàn và tăng cường hoạt động của Ban Chỉ đạo và Văn phòng Điều phối Chương trình xây dựng nông thôn mới thành phố, tham mưu, đề xuất với UBND thành phố các biện pháp cụ thể để thực hiện các nội dung của đề án.

2. Căn cứ Nghị quyết HĐND thành phố, UBND thành phố chỉ đạo các cơ quan chuyên môn xây dựng kế hoạch thực hiện.

3. Các huyện xã xây dựng nông thôn mới căn cứ kế hoạch của thành phố, tích cực phối hợp với cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo, Văn phòng Điều phối Chương trình xây dựng nông thôn mới thành phố và các ngành liên quan  tổ chức thực hiện.

4. Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng, Báo Hải Phòng, Báo An ninh Hải Phòng, UBND các huyện tăng cường tuyên truyền, phổ biến nội dung của đề án đến các xã và nhân dân để mọi người cùng hiểu rõ và tích cực thực hiện.

 5. Văn phòng UBND thành phố, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Chương trình), Văn phòng Điều phối Chương trình xây dựng nông thôn mới thành phố có trách nhiệm thường xuyên theo dõi, đôn đốc các ngành, các địa phương tổ chức thực hiện, báo cáo UBND thành phố

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ

KT.CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

 Đỗ Trung Thoại

  Gửi tin phản hồi Gửi Email In bài viết
Ý kiến bạn đọc gửi
Tin tức này chưa có ý kiến nào
Các tin đã đưa
Đoàn đại biểu thành phố thăm và làm việc tại thành phố Kô- bê (Nhật Bản)(20/09/2014 - 21:03)
Điều chỉnh mức thu phí vệ sinh đô thị trên địa bàn thành phố (20/09/2014 - 11:29)
Tiếp tục triển khai có hiệu quả công tác quản lý giết mổ gia súc, gia cầm và kinh doanh thịt, sản phẩm gia súc, gia cầm (19/09/2014 - 16:00)
Hội nghị trực tuyến phổ biến, quán triệt Luật Tiếp công dân(19/09/2014 - 15:00)
Lịch tiếp xúc cử tri của Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố(19/09/2014 - 10:21)
Đoàn đại biểu thành phố thăm và làm việc tại thành phố Kitakyushu (Nhật Bản)(18/09/2014 - 21:45)
Đoàn đại biểu thành phố thăm và làm việc tại thành phố Fukuoka (Nhật Bản)(18/09/2014 - 21:40)
Quận Kiến An: Tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện kế hoạch cải cách hành chính(18/09/2014 - 20:30)
UBND thành phố họp kiểm điểm rút kinh nghiệm công tác phòng, chống cơn bão số 3(17/09/2014 - 15:22)
Đẩy mạnh tuyên truyền về Cộng đồng ASEAN(17/09/2014 - 14:50)
Bộ trưởng Cao Đức Phát kiểm tra công tác phòng, chống bão số 3 tại Hải Phòng(16/09/2014 - 20:17)
BĐBP Hải Phòng:Tăng cường nhiều cán bộ xuống cơ sở làm nhiệm vụ phòng chống cơn bão số 3(16/09/2014 - 20:03)
Chuyển trang    
Trang số:  1/311
Số bản ghi trên trang:














 



























 
thiet ke web hai phong dien dan rao vat rao vat hai phong thiet ke web hai phong rao vat hai phong thiet ke web hai phong
Liên kết website
   
Thông tin truy cập
 
Số lượt truy cập : 3658457
Khách trực tuyến : 7817
Thành viên trực tuyến : 2